Hiển thị các bài đăng có nhãn thương hiệu. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn thương hiệu. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 5 tháng 12, 2014

Mất bao lâu để khách hàng tin tưởng một thương hiệu?

Theo tạp chí Entrepreneur, trong một cuộc khảo sát thị trường mới cho biết bạn phải mất hai năm trước khi khách hàng tin tưởng thương hiệu của bạn. 
Niềm tin là thứ vô giá và cần mất nhiều năm để xây dựng và duy trì nhưng rất mong manh, có thể đổ vỡ điều kiện con người mong manh mất nhiều năm để xây dựng, nhưng có thể bị tan vỡ ngay lập tức. Nó cũng là thành phần bí mật trong việc kết nối những mối quan hệ lâu năm và sâu sắc.

Là một chủ doanh nghiệp, khả năng của bạn để tìm kiếm được sự tin tưởng của khách hàng là thứ sẽ tách bạn ra khỏi cuộc chiến cạnh tranh. Nếu bạn làm điều điều đó, bạn sẽ xây dựng một nền tảng khách hàng trung thành vốn sẽ có khả năng dẫn dắt, giới thiệu và đem về cho bạn tiền hơn. Tuy nhiên, cũng như với bất cứ thứ gì có giá trị, niềm tin cũng đòi hỏi bạn phải bỏ ra thời gian.

Theo tạp chí Entrepreneur, trong một cuộc khảo sát thị trường mới cho biết bạn phải mất hai năm trước khi khách hàng tin tưởng thương hiệu của bạn - hoặc cụ thể hơn, hai năm cho một khách hàng xem thương hiệu của bạn là một trong trong những thứ thể dựa vào. Cuộc khảo sát này được thực hiện bởi sự tham gia của khách hàng công ty SDL, nơi đã tiến hành thu thập dữ liệu từ 2.835 người dân tại 6 lục địa, 9 thị trường, 5 ngôn ngữ và 4 thế hệ khách hàng.

Theo SDL, Ngoài ra, bạn phải mất hơn gấp đôi thời gian trên để đạt các "điểm tới hạn doanh thu". Đây chính là thời điểm khi khách hàng thực sự sẽ bắt đầu chi tiêu nhiều tiền cho thương hiệu của bạn hơn so với các thương hiệu cạnh tranh, theo SDL. Thời gian cho quá trình này mất 5 năm.

5 năm có thể có vẻ giống như một quãng thời gian vô tận để được những khách hàng phát triển một mối quan hệ với bạn, nhưng hãy nghĩ họ như những người trong cuộc sống của bạn - những người bạn mà bạn tự tin rằng sẽ đi với bạn trên chặng đường dài của cuộc sống. Bạn đã có thể hiểu về họ trong 5 năm, nếu không nói là cần nhiều hơn nữa. 

Một cách để tăng cường các mối quan hệ của bạn trong cuộc sống và kinh doanh là giao tiếp nhiều hơn, và hiệu quả hơn. Điều đó không có nghĩa là gửi tin nhắn hết giờ này qua giờ khác, đặc biệt là nếu người mà bạn đang nhắm tới phát triển mối quan hệ không thích những thông điệp dạng văn bản. Điểm mấu chốt cần đạt được trong khâu giao tiếp với khách hàng của bạn tốt hơn hết là chú trọng tới kỹ thuật gửi thông điệp của bạn để làm thế nào người đó thích thú. Là một doanh nhân, hãy suy nghĩ về đối tượng nhân khẩu học mục tiêu mà bạn hướng tới và điều chỉnh thông điệu một cách phù hợp. 

Ví dụ với những khách hàng trẻ trung trong độ tuổi từ 18 đến 27 có nhiều khả năng nhìn thấy thương hiệu thức ăn từ các nội dung trên Twitter và sử dụng những cộng đồng khách hàng trực tuyến. Những khách hàng có độ tuổi từ 28 đến 36, xác suất lớn là kiểm tra trạng thái thông qua những trang Facebook và các trang web phiên bản di động. "Thế hệ X", là những khách hàng trong độ tuổi từ 37 và 49, có nhiều khả năng để giao tiếp với một thương hiệu bằng việc trò chuyện trực tuyến và nhóm khách hàng cao già nhất trong độ tuổi từ 50 và 68 tuổi, thường ưa những phương thức giao tiếp cũ như trực tiếp.

Việc giao tiếp hiệu quả với khách hàng sẽ giúp bạn xây dựng một mối quan hệ gắn kết với họ và qua thời gian, có thể biến thành niềm tin.
Theo Infonet/Entrepreneur

Thứ Năm, 4 tháng 12, 2014

9 nguyên tắc thành công cho thương hiệu

Đó là những nguyên tắc đã được kiểm chứng từ những thương hiệu thành công.


Đặt trọng tâm

Những doanh nghiệp đi cùng thương hiệu thành công luôn biết “tập trung vào chuyên môn”! Họ sở hữu một mục đích kinh doanh cho thương hiệu rất cụ thể và giá trị của tổ chức cũng rất rõ ràng. Ngay cả những mục tiêu kinh doanh ngắn hạn và dài hạn cũng được xác định rất rõ ràng.

Trong lúc doanh nghiệp tăng trưởng và mở rộng, có thể sẽ cần đến việc thay đổi trong định vị thương hiệu để đảm bảo tính tương thích trong thông điệp kinh doanh và chủ đích của doanh nghiệp. Hãy nghĩ đến câu hỏi sau: Đâu là điều doanh nghiệp thật sự muốn đạt được? Đâu là vị trí doanh nghiệp muốn sở hữu để đạt đến những mục tiêu trong kinh doanh?

Cụ thể và minh bạch

Thông điệp và hình ảnh thương hiệu luôn phải trong suốt như pha lê. Một khi thương hiệu và công việc kinh doanh tiến triển, việc “mài giũa” và “tinh chế” những ngôn từ, giá trị trong thông điệp xây dựng thương hiệu là rất cần thiết. Luôn cải tiến vị trí bán hàng độc nhất và hướng đến sự khác biệt để người tiêu dùng biết đích xác những gì họ nên kỳ vọng khi mua sắm sản phẩm và dịch vụ từ doanh nghiệp.

Đóng góp

Chúng ta luôn nghe đến câu ngạn ngữ “Cho là nhận” và điều ấy đúng trong kinh doanh. Càng đóng góp nhiều vào thế giới và cộng đồng, doanh nghiệp càng nhận lại nhiều hơn. Lập kế hoạch cho chiến lược thiện nguyện đóng góp của thương hiệu và đảm bảo công tác xã hội ấy phù hợp với nền tảng khách hàng cốt lõi của doanh nghiệp.

Kết nối

Luôn mở rộng mối quan hệ với những thương hiệu hỗ trợ khác, đặc biệt là những thương hiệu chia sẻ cùng doanh nghiệp những giá trị kinh doanh và nhóm khách hàng mục tiêu. Chủ động và sẵn sàng tạo ra những chiến lược xây dựng thương hiệu cộng tác mang tính sáng tạo, chẳng hạn như chiến lược quảng bá chung hình ảnh giữa thương hiệu quần áo trẻ em Osh Kosh và bột giặt Tide.

Cả hai thương hiệu cùng có lợi khi khiến khách hàng tỏ ra hứng thú và gắn kết hơn với sản phẩm của cả hai.

Tạo dựng nên cộng đồng

Không một doanh nghiệp nào có thể thành công khi hành động đơn thân độc mã, vì thế hãy tạo một cộng đồng bao gồm những người luôn ủng hộ và chủ trương bảo vệ mình, có thể họ nằm trong lĩnh vực mình kinh doanh hoặc trong nhóm khách hàng mục tiêu của doanh nghiệp. Ngoài ra, luôn nắm bắt văn hóa của doanh nghiệp và quản lý chặt chẽ sự tăng trưởng cũng như công tác tuyển dụng nhằm đảm bảo những tiêu chuẩn cốt lõi của nền văn hóa ấy luôn được giữ vững và đáp ứng.

Duy trì niềm tin

Niềm tin chỉ có thể xây dựng và củng cố từng bước một thông qua thời gian. Vì thế hãy bắt đầu với nơi doanh nghiệp đang đứng và những gì doanh nghiệp biết. Doanh nghiệp đang có một đội ngũ nhân tài, những kỹ năng, sản phẩm hoặc dịch vụ mang đến cho thế giới người tiêu dùng. Hãy mài giũa những kỹ năng và mở rộng năng lực lãnh đạo của tổ chức. Đấy chính là những bước đi đầu tiên và nền móng để gia tăng niềm tin trong doanh nghiệp.

Thống nhất

Quản lý công việc kinh doanh và thương hiệu nhằm đảm bảo mọi thứ doanh nghiệp làm đều hướng đến cùng một thông điệp. Chẳng hạn, về bản chất nếu thương hiệu mang tính công nghệ cao, có lẽ doanh nghiệp sẽ không muốn kết nối công việc kinh doanh với các hoạt động đậm chất nghệ thuật như múa ba lê hay dàn nhạc giao hưởng. Thiếu tính nhất quán sẽ khiến khách hàng mục tiêu của doanh nghiệp mất phương hướng và sao lãng.

Nhất quán

Đảm bảo mọi sản phẩm hay dịch vụ doanh nghiệp cung ứng đều nhất quán về giá trị và chất lượng. Danh tính của một thương hiệu sẽ mất cả một thế hệ để tạo dựng nhưng có thể bị phá hủy trong chốc lát. Hãy tưởng thưởng cho các khách hàng trung thành và thường xuyên tạo nên những cảm giác thích thú về thương hiệu của mình. Chắc chắn rằng doanh nghiệp và các nhân viên trong toàn tổ chức mỗi ngày đều làm việc vượt qua ngưỡng xuất sắc trong mỗi cá nhân.

Khơi dậy tầm ảnh hưởng

Làm tất cả để tạo nên sự ảnh hưởng từ thương hiệu của mình. Nếu hợp lý, hãy đặt thương hiệu của doanh nghiệp bên cạnh những nhân vật nổi tiếng hoặc tạo ra những chương trình tài trợ mang tính cộng đồng xã hội. Kết nối thương hiệu với những hoạt động có thể giúp doanh nghiệp nâng tầm giá trị thương hiệu và sự xuất hiện trước nhiều người hơn.

Nhưng ghi nhớ rằng hình ảnh và danh tính của chủ doanh nghiệp và những cá nhân đóng vai trò đại diện cho thương hiệu, như nhân viên bán hàng chẳng hạn, cũng mang đến những tác động không nhỏ cho sự ảnh hưởng của một thương hiệu.
Theo DNSGCT

Thứ Tư, 3 tháng 12, 2014

5 sai lầm các chuyên viên PR cần tránh

Quan hệ công chúng (Public Relation - PR) là một phần của hoạt động marketing, giữ vai trò quan trọng trong việc xây dựng và quảng bá thương hiệu. Hình ảnh, phong cách giao tiếp cũng như nội dung phát ngôn của người làm công tác PR có tác động trực tiếp, theo hướng tốt hoặc xấu, đến uy tín thương hiệu.

Áp lực lớn nhất của một chuyên viên PR chính là dễ mắc sai lầm, vì phải làm việc với nhiều đối tượng, truyền thông nhiều dạng thông tin, đặc biệt là phải tương tác thường xuyên với báo chí... Sau đây là một số sai lầm thường gặp mà các chuyên viên PR cần lưu ý để tránh:


1. Trả lời mail, điện thoại quá vội vàng

Khi các phóng viên gửi mail/gọi điện thoại để liên hệ thông tin về doanh nghiệp/thương hiệu một cách dồn dập cùng một vấn đề theo nhiều kiểu khác nhau, các chuyên viên PR thường có xu hướng trả lời chung chung, càng nhanh càng tốt. Áp lực từ các câu hỏi thường khiến cho các chuyên viên PR cảm thấy mệt mỏi và do đó thường áp dụng kiểu trả lời theo khuôn mẫu và mong cho cuộc trao đổi chấm dứt càng nhanh càng tốt.

Cần biết rằng, mỗi phóng viên, mỗi tờ báo/đài có quan sát riêng của họ khi tiếp cận thông tin của doanh nghiệp. Nếu bạn không cung cấp đủ thông tin, họ có thể suy diễn theo cách họ nghĩ. Cách trả lời nhát gừng hoặc cầm chừng của bạn không chỉ khiến cho tình hình của bạn không được cải thiện, mà có khi sẽ tệ hơn, và thường tới lúc đó, bạn phải mất gấp chục lần thời gian để giải quyết chúng.
Do vậy, khi tiếp nhận thông tin từ các tờ báo/đài khác nhau, bạn nên xem như email, cuộc gọi mà bạn đang nhận là email/cuộc gọi đầu tiên. Cố gắng lắng nghe/phân tích các dữ liệu, thông tin mà bạn cần phải làm rõ/cung cấp cho họ, và trả lời cặn kẽ bằng các thông tin mà bạn được phép công bố.

Một chuyên viên PR máy móc, cứng nhắc và thiếu tính tương tác sẽ không có được thiện cảm của các phóng viên/báo đài, tức mất đi yếu tố trọng nhất mà một chuyên viên PR cần có.

2. Thiếu kiểm chứng/kiểm soát thông tin nội bộ

Thông thường, thông tin từ bên ngoài vào doanh nghiệp có thể đến từ nhiều phía mà bạn không kiểm soát được (báo/đài/truyền miệng/internet…), nhưng thông tin từ doanh nghiệp ra chỉ nên đến từ một phía, một nội dung.

Bạn cần làm rõ quy trình kiểm chứng / cung cấp thông tin của doanh nghiệp mình trước khi nhận việc. Bạn cần xác định rõ người được công bố thông tin chính thức cho từng vấn đề như sản phẩm, thị trường, thương hiệu, các vấn đề về từ thiện – xã hội…, đảm bảo khi báo chí/cơ quan chức năng hỏi đến, bạn sẽ nhanh chóng xác định rõ nguồn thông tin giúp bạn cung cấp cho họ, đảm bảo tác phong chuyên nghiệp và tôn trọng báo chí/ cơ quan chức năng của mình.

Quan trọng hơn hết, bạn cần kiểm chứng thông tin nội bộ bằng văn bản, tránh tình trạng tam sao thất bản, dễ dàng sai lệch khi cung cấp cho báo chí/ cơ quan ban ngành liên quan.

3. Thông cáo báo chí sơ sài – mang đậm tính PR, thiếu thông tin/số liệu

Các chuyên viên PR thường có xu hướng thuần giới thiệu, ca ngợi sản phẩm của doanh nghiệp mình. Bạn cần biết rằng các chuyên gia báo chí không đánh giá cao những điều hay/tốt mà bạn ca ngợi. Họ chỉ quan tâm sản phẩm của bạn/thương hiệu của bạn đóng vai trò như thế nào trong tình hình thị trường chung, và có lợi thực sự cho người tiêu dùng như thế nào.

Họ sẽ không bị mê hoặc bởi những lời có cánh của bạn. Điều họ quan tâm là số liệu để kiểm chứng, đối chiếu, so sánh. Cần cung cấp cho chuyên gia báo chí một bức tranh tổng quan về thị trường, trong đó nhấn mạnh vai trò của sản phẩm/thương hiệu của bạn, tính đột phá hay ích lợi thực sự của nó.
Và nếu bạn không có sản phẩm có vai trò như thế, đừng tốn tiền vào các công cụ PR để quảng bá nó.

4. Chậm trễ cung cấp thông tin

Một điều thường thấy ở các chuyên viên PR thiếu chuyên nghiệp, là mất quá nhiều thời gian để xử lý thông tin. Bạn cần có sự chuẩn y của quá nhiều người cho một dạng thông tin nhất định. Trong khi đó, báo chí không có thời gian để chờ đợi bạn. Họ cũng không có sẵn lòng kiên nhẫn để chờ bạn được duyệt thông tin.

Bạn cần chủ động nắm bắt các thông tin trong doanh nghiệp càng nhiều càng tốt. Đừng để mình trở nên bị động khi tương tác và trễ nải trong phản hồi. Thông tin được cung cấp thông tin kịp thời, nhanh chóng, nhiều khả năng sẽ trở thành cơ hội PR cho doanh nghiệp/sản phẩm của bạn, nhờ lòng tin và thiện cảm của các chuyên gia báo chí.

5. Thiếu tự tin/quá tự cao khi giao tiếp với báo chí

Bản chất của quan hệ công chúng là cung cấp các thông tin trung thực, chính xác, qua đó thể hiện vai trò, tầm vóc và thông điệp của doanh nghiệp/thương hiệu đối với người tiêu dùng.

Các chuyên viên PR là người đại diên cho doanh nghiệp/thương hiệu để làm điều đó. Bạn không xin xỏ hay năn nỉ bất kỳ ai, nếu thông tin của bạn là hữu dụng cho báo chí/người tiêu dùng.

Bạn cũng không ban bố thông tin cho ai, vì truyền thông chính là yếu tố giúp khai sinh ra nghề của bạn.

Do đó, chuyên viên PR cần giữ một thái độ nhã nhặn và chủ động cần thiết, để không tạo ra cảm nhận thiếu tự tin hoặc quá tự cao đối với người bạn đang tiếp xúc. Điều này cần thiết cho sự nghiệp lâu dài của bạn.
Nhượng Quyền Việt Nam

10 cuốn sách Marketing hay nhất mọi thời đại

Tạp chí Inc. gần đây đã hệ thống hóa và giới thiệu một số đầu sách thuộc loại cẩm nang đi cùng thời đại trong nhiều lĩnh vực khác nhau như quản lý nhân viên, bán hàng, tiếp thị...rất cần cho giới doanh nhân.
Dưới đây là mười cuốn sách về marketing, giải thích sự thay đổi mà công nghệ đã tác động lên các chiến lược và chiến thuật tiếp thị của doanh nghiệp, hay những quan sát không bao giờ lỗi thời về đặc tính của con người và hành vi của đám đông...
1. Crossing the Chasm (tạm dịch: Tìm hiểu những khác biệt của người tiêu dùng).

Bằng cách nhận diện sự khác biệt giữa "những người tân thời" và "những người lạc hậu", đồng thời cả nhóm người ở giữa hai thái cực này, tác giả Geoffrey Moore đã vẽ ra một lộ trình phát triển các thị trường mới. Mặc dù Moore chủ yếu nói về những khác biệt trong lĩnh vực công nghệ cao, nhưng những bài học và ví dụ mà tác giả đưa ra vẫn có thể được áp dụng cho nhiều ngành và lĩnh vực khác.
2. The Life of PT Barnum (Cuộc đời của PT Barnum).

PT Barnum được xem là một chuyên gia về xây dựng thương hiệu cá nhân, đã bỏ nhiều công sức trong hơn nửa thế kỷ qua để xây dựng, củng cố và thay đổi hình ảnh của mình trước công chúng, khiến thế giới phải nhìn nhận những khái niệm, quan điểm mà tác giả đưa ra.
3. Selling the Invisible (Bán những thứ vô hình).

Sự chuyển đổi kinh tế có ý nghĩa nhất trong 50 năm qua trên thế giới là sự thay đổi từ nền kinh tế sản xuất công nghiệp sang nền kinh tế dựa trên dịch vụ. Theo tác giả Harry Beckwith, chìa khóa để đi đến thành công trong sự chuyển đổi ấy chính là khả năng tiềm ẩn của doanh nghiệp trong việc xây dựng quan hệ giữa các đồng nghiệp, giữa đội ngũ nhân viên doanh nghiệp với các đối tác, khách hàng. "Tiếp thị theo ý nghĩa mới không chỉ ở cách làm, mà còn ở cách tư duy. Tiếp thị được bắt đầu bằng việc tìm hiểu bản chất đặc thù của dịch vụ (chính là tính vô hình của nó) và những đặc điểm chung của những người sử dụng dịch vụ..." như tác giả đã viết.
4. Influence (tạm dịch: Bí quyết tạo ảnh hưởng).

Đây là cuốn sách rất hữu ích đối với các chuyên gia bán hàng và tiếp thị. Tác giả Bob Cialdini đã phân tích những động cơ khiến khách hàng đồng ý và bí quyết để doanh nghiệp đưa họ đi đến điểm này. Từ nhiều quan sát thực tiễn, Cialdini đã đúc kết được những hành động và lời nói có khả năng tạo ra ảnh hưởng mạnh đến nhu cầu và mong muốn của khách hàng.
5. Positioning (Định vị).

Mặc dù đã được phát hành cách đây 20 năm, đến nay cuốn sách của hai tác giả Al Ries và Jack Trout vẫn chứng minh được những giá trị đúng đắn về những yếu tố cơ bản làm cho sản phẩm của doanh nghiệp phù hợp với mong đợi của khách hàng và sống được với cạnh tranh. "Định vị là những gì doanh nghiệp tạo ra cho sản phẩm. Định vị cũng là những gì mà doanh nghiệp muốn tạo ra trong tâm trí của khách hàng" là một trong những đúc kết câu nổi tiếng của hai tác giả trong cuốn sách nói trên.


6. Buy-ology (tạm dịch: Học thuyết về quá trình mua hàng).

Bằng cách đưa khoa học thần kinh (neuroscience) vào trong nghệ thuật tiếp thị, tác giả Martin Lindstrom đã giải thích về những ảnh hưởng của một số tác nhân thần kinh lên suy nghĩ của người tiêu dùng. Điều quan trọng hơn là Lindstrom đưa ra các biện pháp đánh giá tác động của yếu tố này một cách khoa học và sử dụng các kết quả để điều chỉnh các chiến dịch tiếp thị.


7. Permission Marketing (Tiếp thị dựa trên sự cho phép của khách hàng).

Trong nhiều thập niên qua, các hoạt động tiếp thị theo kiểu truyền thống thường bị chỉ trích vì đã nhồi nhét quá nhiều thông tin cho khách hàng. Seth Godin đã giúp thay đổi quan điểm này khi chỉ ra rằng hiện nay doanh nghiệp hoàn toàn có thể làm tiếp thị bằng cách tạo ra nhiều sự lựa chọn khách hàng và để cho họ có quyền quyết định chọn những thông điệp mà họ muốn nghe.
8. Guerilla Marketing (tạm dịch: Tiếp thị kiểu "du kích").

Cách đây 30 năm, Jay Conrad Levinson đã làm cho tiếp thị không còn là đặc quyền của những công ty lớn với ngân sách "khủng" mà hoàn toàn nằm trong tầm với của các doanh nghiệp nhỏ và vừa nhờ những chiến thuật sáng tạo và ít tốn kém hơn. Tác giả giải thích rằng doanh nghiệp không nhất thiết phải bỏ ra nhiều tiền để nhận biết được thị trường, chỉ cần hiểu hết được mọi khía cạnh của tiếp thị và biết cách vận dụng sáng tạo.


9. The Long Tail (Cái đuôi dài).

Theo Chris Anderson, nếu như thế kỷ XX được xem là thời kỳ của những sản phẩm "hit" (sản phẩm thu hút sự quan tâm của số đông khách hàng), thì thế kỷ XXI là thời đại của những sản phẩm "niche" (sản phẩm phù hợp với một phân khúc hẹp của thị trường). Trong cuốn sách này, tác giả đã giải thích những thói quen mua hàng trên internet của khách hàng.
10 .Extraordinary Popular Delusions and the Madness of Crowds (tạm dịch: Những ảo tưởng và sự điên cuồng của đám đông).

Suy cho cùng, làm tiếp thị chính là tìm hiểu suy nghĩ, hành vi của các nhóm người khác nhau. Cho dù công nghệ đã thay đổi trong nhiều thập niên qua nhưng một số suy nghĩ và hành vi cơ bản của con người dường vẫn như cũ. Do đó, những điều về "tâm lý đám đông" mà Charles Mackay đã đề cập tới trong cuốn sách của mình từ năm 1841 vẫn còn đúng qua nhiều thời đại và hoàn toàn có thể áp dụng trong các hoạt động tiếp thị. Đọc cuốn sách này, chúng ta không còn ngạc nhiên trước những sự kiện đặc biệt như cuộc đại khủng hoảng hồi thập niên 1930 hay các "cơn sốt" của các chương trình truyền hình thực tế ở Mỹ như The Kardashians.
Theo Infonet/Theo Medium

Cựu CEO Ogilvy: 'Hãy nói ý kiến của mình ra. Sẽ chẳng ai đuổi việc bạn đâu'

Với Shelly Lazarus, "là chính mình" là bí quyết đầu tiên khi xây dựng thương hiệu cá nhân. 
Shelly Lazarus đã gia nhập Ogilvy trong hơn 40 năm. Khi bà bắt đầu làm cho công ty từ năm 1971, bà là một trong nhóm nhỏ những người phụ nữ tham gia vào ngành quảng cáo. 26 năm sau, sau hàng loạt chiến dịch thành công với các khách hàng lớn như IBM, Ford, American Express hay Unilever, bà trở thành Chủ tịch kiêm CEO của Ogilvy & Mather.
Một tên tuổi lớn trong ngành quảng cáo, đồng thời là thành viên Hội đồng quản trị của Merck, G.E, hay Blackstone, bà Lazarus có những lời khuyên nào cho những người muốn xây dựng thương hiệu cá nhân cho riêng mình?

Dưới đây là những chia sẻ của bà Lazarus về ý nghĩa thực sự của thương hiệu với sự nghiệp của mỗi người. Theo bà, “hãy là chính mình” là chiến lược tốt nhất cho tất cả, dù bạn là nam hay nữ. 

Thương hiệu cá nhân đã giúp gì cho sự nghiệp của bà, và cách tốt nhất để xây dựng một thương hiệu cá nhân là gì? 

Thực tế là: Tôi ghét việc mọi người nói về thương hiệu cá nhân. Cụm từ này bao hàm việc mọi người phải đưa mình vào trong một cái khuôn giả tạo, trong khi điều họ thực sự cần làm đó là sự chân thành. Một trong những điều tuyệt với mà tôi được trải nghiệm trong sự nghiệp của mình đó là được làm việc với rất nhiều nhà lãnh đạo trên toàn thế giới, đến từ nhiều ngành công nghiệp hay quốc gia khác nhau. Và chìa khóa thành công của họ đều là họ cần phải thoải mái khi là chính mình. Không có một trường hợp ngoại lệ nào ở đây.

Khả năng phục hồi – thứ giúp bạn vượt qua khó khăn, là yếu tố tối quan trọng trong sự nghiệp của bạn. Nếu bạn cứ tốn thời gian để cố gắng không phải là chính mình, bạn sẽ sớm mệt mỏi và không còn đủ sức để giải quyết những công việc thực sự. Trái lại, nếu bạn thực sự cảm thấy hứng thú với những gì mình đang làm, có mục tiêu trong mắt, nó sẽ tự động cuốn hút mọi người xung quanh bạn, cổ vũ họ làm theo bạn. 

Vậy theo bà lời khuyên “là chính mình” có đúng không nếu chính bà lại không tự tin vào bản thân? 

Chẳng ai cấm bạn thể hiện quan điểm. Nếu bạn thực sự đang làm vì đam mê, tôi không nghĩ sẽ có người cảm thấy có vấn đề.  Nếu bạn có giá trị trong mắt tổ chức và lên tiếng mạnh mẽ cho một ý tưởng, bạn nghĩ điều tệ hại nhất có thể đến là gì? Kể cả khi dự án không tiến triển như bạn muốn, bạn cũng sẽ không bị đuổi đâu. 

Một điều nữa bạn cần quan tâm đó là phong cách. Đó không chỉ là những điều bạn nói, mà còn là cách bạn nói những điều đấy. Mọi người bảo tôi hay cười, nhưng tôi cũng mạnh mẽ. Khi phải thể hiện quan điểm cá nhân, tôi sẽ nói nó một cách rõ ràng và thuyết phục. Mặc dù vậy, tôi cũng cố gắng để nó nhẹ nhàng và dễ tiếp thu. Bạn không cần lúc nào cũng phải tỏ ra quyết liệt. Thay vào đó, bạn có thể làm mọi thứ từ sức hút của mình. 

Bà có lời khuyên gì cho những người cảm thấy lo lắng với bản thân và sợ thất bại? 

Khi tôi mới đi làm, có một lần tôi ở trong phòng sếp cùng với người lên kế hoạch truyền thông. Người lên kế hoạch truyền thông không ngừng đi vòng tròn trong phòng. Cô ấy đang vô cùng lo lắng vì chúng tôi đang chuẩn bị trình bày kế hoạch cho một khách hàng lớn nhưng máy tính lại bị hỏng.

Lúc đó, sếp của tôi đặt tay lên vài cô ấy và nói: “Karen, cô nghĩ họ sẽ làm gì cô? Bắt con của cô đi chắc?”. Dù trong trường hợp nào, nếu bạn thực sự giá trị và bạn đang làm tốt công việc, bạn sẽ không phải lo bị đuổi việc. Có ý kiến cho rằng phương án của bạn không tối ưu? Thế thì sao? Bạn sẽ nhớ ý kiến của họ hàng tuần liền, trong khi họ sẽ quên ngay sau đó. Vì vậy, hãy nắm lấy cơ hội của mình, nói ra những gì mình nghĩ. Sẽ chẳng có điều gì xấu xảy ra với bạn đâu. 

Thương hiệu cá nhân của bà có thay đổi khi bà trở thành lãnh đạo trong công ty không? 

Có một quan niệm nhầm lẫn đó là bạn phải khoác lên mình bộ áo mới khi bạn trở thành nhà lãnh đạo. Bạn cần phải khó tính hơn, thông minh hơn, lý trí hơn. Tất cả những điều này chẳng giúp gì cho bạn. Thương hiệu xuất hiện trong tâm trí người sử dụng nó, và nếu bạn đột nhiên thay đổi nó, bạn đang đuổi khách hàng của mình đi. Tôi từng thấy rất nhiều thương hiệu làm như vậy.

Tất cả những tính cách giúp tôi thành công trong sự nghiệp khi nói chuyện với khách hàng như sự khiêm tốn, hào sảng hay thái độ nồng hậu, tôi đều cố gắng giữ lại chúng kể cả khi tôi đã đứng ở một vị trí cao hơn. 

Khi nói tới một người có thương hiệu cá nhân lớn, bà nghĩ tới ai đầu tiên? 

David Ogilvy, nhà sáng lập của chúng tôi. Ông là một trong những người bán hàng xuất sắc nhất thế giới, và cũng rất… kỳ cục. Ông mang túi truyền thống của đàn ông Scotland khi đi làm. Một lần khi chúng tôi đang ăn tối với khách hàng, ông gọi 5 hũ mứt nhỏ và một cái thìa. Sau đó ông nói: Nếu bạn không phải là người thông minh, ít nhất hãy là người biết tạo ấn tượng. Nếu bạn gặp David, bạn sẽ luôn ấn tượng với ông ấy.


Bà có lời khuyên gì cho những lãnh đạo để họ trở nên ấn tượng ngay trong công ty của mình không?


Hãy chọn lựa lời nói một cách cẩn thận, và nói những điều bạn thật sự nghĩ. David có cách dẫn dắt Ogilvy rất khác so với bản “nhiệm vụ công ty” của nhiều tổ chức khác. Cách dẫn dắt của ông khiến mọi người không thể quên. Trong khi nhiều công ty sẽ nói: “Hãy tôn trọng khách hàng”, Ogilvy sẽ nói: “Khách hàng không phải là kẻ ngốc, họ là vợ của bạn”. Rất nhiều lần trong sự nghiệp của tôi, nhiều nhân viên trẻ muốn thay đổi những quy tắc đó, tuy nhiên nó nhanh chóng bị xé bỏ bởi sự thay đổi làm mất hết đi tính độc đáo cũng như niềm đam mê trong đó.


Khi bạn phải dẫn dắt mọi người hướng tới một mục tiêu quan trọng, hãy luôn là chính mình. Bỏ qua việc “là chính mình” sẽ là điều cuối cùng mà bạn muốn làm.

Theo Infonet/HBR

Chủ Nhật, 30 tháng 11, 2014

Các trường Đại học xây dựng thương hiệu thế nào để lôi kéo học viên?

Trong một thế giới phẳng, các trường đại học đang cố gắng để uy tín và danh tiếng của mình vang đi càng xa càng tốt. Càng nổi tiếng, họ càng có cơ hội lôi kéo được nhiều người theo học hơn. 

Sau gần 4 thập kỷ tăng trưởng về nhu cầu đạo tạo, các trường đại học danh tiếng trên thế giới đang gặp rất nhiều vấn đề: Nhà nước cắt hỗ trợ, người theo học thì ngày càng mất niềm tin vào bằng cấp, mức độ cạnh tranh cao và phải đối mặt với sự phát triển của công nghệ.


Xu thế cũng đang dịch chuyển. Nhu cầu giáo dục bậc cao tại Mỹ và châu Âu đang giảm xuống. Trong khi đó, nhu cầu này tại các thị trường mới nổi lại tăng cao. Theo dự báo của tổ chức nghiên cứu, số lượng sinh viên tại Mỹ phải tới năm 2021 mới lập đỉnh mới. Trong khi đó, ngược lại tại Ân Độ, tới năm 2020 sẽ có 1/4 thanh niên từ độ tuổi 18 – 22 theo học đại học

Theo OECD, tới 2020, khoảng 200 triệu thanh niên trên toàn thế giới sẽ có bằng đại học. Trong đó 40% đến từ tầng lớp trung lưu trở lên của Trung Quốc và Ấn Độ. Tới năm 2025, số lượng sinh viên đi du học có thể gấp đôi con số hiện nay và vào khoảng 4,3 triệu người.

Trước viễn cảnh này, nhiều trường đại học đã tìm cách “Đánh bóng” hồ sơ của mình để đảm bảo mình đủ hấp dẫn thu hút các sinh viên nước ngoài và duy trì ổn định tình hình tài chính.

Các tổ chức công vốn phải dựa vào viện trợ chính phủ hay tăng học phí để duy trì doanh thu nay chọn cách chuyển sang truyền thông xã hội, học trực tuyến và các phương pháp mới để tạo dấu ấn của họ với sinh viên Quốc tế.

Trong một thế giới phẳng, các trường đại học đang cố gắng để uy tín và danh tiếng của mình vang đi càng xa càng tốt. Càng nổi tiếng, họ càng có cơ hội lôi kéo được nhiều học viên hơn.

Cuộc chiến này có vẻ ít ảnh hưởng đến những trường đại học hàng đầu như Havard hay Stanford. Nhưng bỏ qua dưới 10 cái tên quá nổi tiếng, các trường đại học còn lại đang phải cạnh tranh nhau rất khốc liệt. Đây là một cuộc cạnh tranh trên toàn cầu, và là một xu hướng không thể tránh khỏi.
Vậy các trường đại học đang làm gì?

Sử dụng những công cụ mới

Trong thế giới hiện đại, các trường đại học đang tìm cách phát triển thương hiệu của mình mà không cần tới gạch và vữa.

Trước đây, các trường đại học thường chọn cách trao đổi sinh viên và giảng viên để quảng bá hình ảnh của mình. Tuy nhiên trong 1 thập kỷ trở lại đây, nhiều phương thức mới đã được áp dụng. Chẳng hạn như tổ chức các chương trình đào tạo trực tuyến quy mô nhỏ hay xây dựng chi nhanh ở nước ngoài. Ước tính hiện tại có hơn 200 chi nhánh như vậy trên toàn thế giới.

“Phương thức hiện đại” ở đây bao gồm nhiều yếu tố. Đó có thể chỉ là cách thiết kế website của trường đại học một cách thông minh, gửi thông điệp tới những khách hàng mục tiêu. Đại học Buffalo (UB), nằm trong top 20 của Mỹ đã nhận được 17% trên tổng số 28.000 sinh viên theo học tại trường chỉ nhờ cách vào thiết kế website chuẩn.

Trước đây, để thu hút sinh viên, UB tổ chức những cuộc gặp mặt trực tiếp với các ứng viên. Tuy nhiên, ngày nay, sự cạnh tranh không chỉ diễn ra ở Mỹ. Họ phải đối mặt với các trường từ Anh, Úc hay Canada. Và website sẽ là sự lựa chọn thông minh hơn. Website của UB được thiết kế chuẩn cho sinh viên có thể dễ dàng tìm kiếm thông tin và lôi kéo được các khách hàng tiềm năng đến với trường.

Truyền thông xã hội cũng được trường đại học tận dụng triệt để. Những mạng xã hội này sẽ truyền tải thông điệp của các trường đại học tới ứng viên. Các trường đại học thường chọn những sinh viên tiêu biểu, tài năng và xinh đẹp đặt lên Facebook của mình, biến họ thành những đại sứ thương hiệu cho trường. Bên dưới những tấm hình cá nhân, sẽ là những trải nghiệm thực của họ về nền giáo dục của trường. Đây là một trong những thông điệp quảng cáo dễ thuyết phục học viên nộp hồ sơ vào trường nhất
 Sử dụng hình ảnh của chính sinh viên đang theo học là cách quảng bá tốt cho trường Đại học

Bằng việc kết hợp những thông tin chính thức từ nhà trường và những thông tin không chính thức của sinh viên đang theo học, các trường đại học kết nối mọi thứ với nhau. Yếu tố này rất quan trọng bởi ngày nay, chẳng mấy ai cất công bay sang tận Mỹ để tham quan trường rồi quyết định mình có nên học ở đó không. Họ quyết định thông qua tìm hiêu thông tin trường trên mạng Internet, bằng website hay bằng Facebook, Twitter.

Phương thức MOOC

Nhiều trường đại học tin rằng những Khóa đào tạo Online quy mô lớn (MOOC) là một trong những cách tó nhất để quảng bá thương hiệu xuyên biên giới. Từ năm 2012, những khóa học miễn phí và không được cấp chứng chỉ này đã thu hút hơn 6 triệu người tham gia trên toàn thế giới.
Mặc dù vậy, MOOC chưa được phát triển thành một mô hình kinh doanh bền vững. Có thể sẽ có tới 10.000 sinh viên đăng ký tham gia một khóa học MOOC, vấn đề là chẳng mấy ai hoàn thành hết khóa.Trong khi đó, theo khảo sát của Đại học Pennsylvania, một phần lớn những người đăng ký các khóa học MOOC lại đã có bằng đại học rồi.

Tuy nhiên, đây vẫn là mô hình được nhiều trường lựa chọn. Đại học Mở của Anh, khá nổi tiếng khi có tới 40 năm kinh nghiệm dạy học từ xa, đã đưa ra mô hình Future Learn trong năm 2013. Đây là nền tảng MOOC đầu tiên tại Anh quốc, được liên kết với 20 trường đại học hàng đầu khác của Anh như Hội đồng Anh, Thư viện Anh hay Bảo tàng Anh.

“Các trường đại học coi mình là những cầu thủ quốc tế. Họ muốn cho các thế giới thấy chất lượng giảng dạy để từ đó, thu hút sinh viên đăng ký các khóa học của mình”, Mike Sharples, người thiết kế nội dung cho Future Learn nói.

Các khoản đầu tư của trường đại học vào MOOC không nhỏ. Trường đại học Alberta, thuộc top 5 trường hàng đầu Canada, đã chi 314.000 USD để xây dựng chương trình MOOC làm sao thu hút được các sinh viên quốc tế tìm đến mình. Khóa học miễn phí của trường đã thu hút gần 20.000 người tham gia. Đối với trường, MOOC là công cụ để danh tiếng của trường vang tới hàng chục nghìn người trên khắp thế giới. Những người chưa từng nghe đến tên trường trước đây.
Các khóa học online là một trong những cách các trường Đại học quảng bá hình ảnh của mình

Đại học Luân Đôn cũng là một ví dụ điển hình. Hiện trường có 54.000 người đang theo các khóa học online và 70.000 sinh viên ở các cơ sở nước ngoài. Khóa MOOC của trường đã thu hút 210.000 người đăng ký từ hơn 160 quốc gia. Tiếp nối thành công, 5 khóa MOOC nữa dự kiến sẽ được tổ chức vào năm 2014.

Mục tiêu của các trường đại học là rất rõ ràng. Họ tập trung vào số đông, và chỉ cần một phần nhỏ trong số hàng trăm nghìn những người đăng ký các khóa học MOOC quyết định nộp hồ sơ vào trường, họ đã thành công.

Không phủ nhận MOOC đang trở thành trào lưu của các trường Đại học quốc tế. Tuy nhiên, mức độ thành công của phương thức này đến đâu thì vẫn cần thêm thời gian để đánh giá. Trên thực tế, phương thức MOOC thay vì nâng cao danh tiếng của các trường đại học, lại mới chỉ nâng cao vai trò của việc học trực tuyến.

Mô hình kết hợp
Trong quá trình tìm ra một mô hình bền vững, một vài trương đã kết hợp mô hình MOOC với các khóa học truyền thống. Trong đó cấp bằng cho cả những sinh viên học các khá MOOC.

Trường đại học công nghệ Georgia, đúng thứ 25 trên toàn thế giới đã cấp bằng Thạc sĩ về khoa học máy tính cho cả những sinh viên theo học khóa MOOC của trường. Khóa học của trường Georgia trị giá 6.630 USD, chỉ bằng 1/3 mức chi phí phải bỏ so với việc học lấy bằng tại các cơ sở nhánh. Trong chương trình đầu tiên, Georgia đã tuyển ra 400 sinh viên trong số 2.300 hồ sơ được nộp. Mục tiêu của trường là đào tạo ra 10.000 sinh viên theo cách này trong vòng 3 năm tới.

Trường đại học Eller School thuộc bang Arizona cũng làm điều tương tự. Năm 2014, trường này đã cung cấp ba chứng chỉ “chuyên gia” 3 kỹ năng đào tạo mà trường làm tốt nhất. Đó là quản lý thông tin hệ thống, kinh doanh và chiến lược tiếp thị số. Nhắm tới những người tìm kiếm kỹ năng, nhãn “Chuyên gia” giúp các ứng viên nâng cao trình độ ở một đẳng cấp cao. Để nhận được chứng chỉ này, các ứng viên chỉ cần hoàn thành khóa học trực tuyến kéo dài trong 3 tháng của trường.

Các trường đưa ra chương trình này cho rằng, việc cấp bằng phải dựa trên những kiến thức của snh viên, chứ không phải là thời gian trên lớp. Học viên được học đúng kỹ năng mình cần, tiết kiệm thời gian hơn, tiền bạc hơn rất nhiều lần so với các khóa học truyền thống. Những khóa học này cũng rất thu hút những người đang đi làm cần bằng cấp, chứ không riêng gì sinh viên mới ra trường. Điều quan trọng là các trường phải đảm bảo các học viên được đánh giá đúng.

Thách thức

Với những thay đổi chóng mặt mà nên giáo dục đang làm, các trường đại học vẫn phải lưu tâm tới một câu hỏi: “Họ sẽ phục vụ ai, và phục vụ đến mức nào?” Để làm được điều này đòi hỏi những công cụ đo lường thích hợp. Chẳng hạn, nếu một mô hình kinh doanh được kết hợp với MOOC, nó cần phải tính được số lượng sinh viên tham gia, tỉ lệ bỏ giữa chừng, mức độ thỏa mãn của sinh viên và tác động của khóa học tới sự nghiệp. Một hẹ thống đánh giá, xếp loại quốc tế cho  MOOC cũng cần được cung cấp.

Thách thức lớn nhất cho các trường đại học đó là làm sao thuyết phục được Chính phủ, tổ chức và người tuyển dụng tin rằng tấm bằng các sinh viên được cấp theo phương pháp mới cũng không khác gì tấm bằng truyền thống. Để làm được điều này, các trường cũng sẽ phải đầu tư thời gian và tiền bạc để xây dựng dần dần danh tiếng cho mình.
Theo Infonet

Bộ não và Thương hiệu

Những người làm marketing không phải là những người duy nhất nghĩ rằng cảm nhận chiếm tới 99% hiện thực. Theo như nhà vật lý Albert Einstein, “Hiện thực chỉ là một ảo tưởng, mặc dù đó là một thứ ảo tưởng dai dẳng.”

Hiện tại Michio Kaku, một nhà vật lý đương đại cùng với nhiều đồng nghiệp trong một cộng đồng liên ngành về khoa học, chăm sóc sức khỏe và tâm lý học, đang khám phá xem thực tại có thể bất định đến thế nào. Những điều họ mô tả có những ý tưởng quan trọng ảnh hưởng tới suy nghĩ của chúng ta về thương hiệu và truyền thông thương hiệu.


Trong cuốn sách “Tương lai của Trí óc”, Kaku đưa chúng ta từ những chi tiết vật lý nhỏ nhất của trí óc đến những vùng xa xôi nhất của vũ trụ, một chuyến đi bí ẩn kì quặc trở nên dễ hiểu bằng những đoạn phim và những bất ngờ về văn hóa, xây dựng nên một học thuyết về nhận thức trong không gian – thời gian phù hợp tuyệt đối với quy luật liên khối không gian – thời gian của Einstein. Điều này nghe có vẻ phức tạp, nhưng các bạn đừng vội bỏ qua.

Kaku hình thành nên học thuyết nhận thức của mình dựa trên cơ sở của những vòng phản hồi. Nhiệt kế là một ví dụ điển hình. Nó hoạt động dựa trên nhiệt độ cảm nhận. Một số sinh vật cũng đơn giản như vậy. Thực vật cũng có một vài những vòng phản hồi như thế để đo các điều kiện, không chỉ dừng lại ở nhiệt độ mà còn là độ ẩm, ánh sáng, và trọng lực.

Những loài động vật đơn giản như bò sát có nhiều vòng phản hồi hơn để định vị xem chúng đang ở đâu trong khi đang điều hướng qua môi trường. Những loài động vật bậc cao hơn như động vật có vú còn có nhiều vòng phản hồi hơn nữa để đo xem chúng đang thực hiện các hoạt động xã hội gì với những con khác, khá cần thiết nếu như bạn đang cố trở thành con đực chính.

Loài người có hàng tỷ các vòng phản hồi, giúp chúng ta nhận thức được chúng ta đang ở đâu trong thời gian, để nhớ được quá khứ và thậm chí là nhìn vào tương lai. Theo tiến sĩ vật lý học Daniel Gilbert thuộc Đại học Harvard, trí óc chúng ta để vận hành như một “cỗ máy dự đoán” mà “tạo nên tương lai” là chiến công vĩ đại nhất của bộ não con người. Chúng ta đặt mình vào thời gian bằng cách liên tục tạo ra những dự đoán, không chỉ trước vài giây và vài giờ như một số loài động vật có vú, mà là nhiều năm ở tương lai và thậm chí còn dài hơn cả cuộc đời của chúng ta.

Vậy tất cả những thông tin trên, chúng ta phải làm gì để tạo nên một thương hiệu mạnh?

Vệc tập trung vào các chi tiết ở các cấp độ truyền thông đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc xây dựng thương hiệu.

Vậy hãy nghĩ về việc làm thế nào chúng ta xử lý một khối lượng lớn những vòng phản hồi. Rất nhiều vòng phản hồi này đang điều khiển các chức năng bên trong cơ thể chúng ta và chúng ta hoàn toàn không nhận thức được chúng. Tôi không biết bây giờ gan của tôi đang làm gì. Những chiếc vòng phản hồi khác đang điều khiển thế giới bên ngoài và chúng ta cũng hầu như không nhận thức được chúng. Bạn có để ý những âm thanh xung quanh bạn khi bạn đang đọc những dòng này không? Không, nhưng bây giờ thì bạn đang để ý rồi đúng không?

Không phải là bạn không xử lý những âm thanh này trước khi bạn tập trung vào chúng. Qua những vòng phản hồi liên tục của bộ máy xử lý cảm giác ở não bộ qua bốn thùy vỏ não, chúng đã ảnh hưởng đến hành động của bạn. Nếu đủ đặc biệt, chúng có thể gặm nhấm sự chú ý của bạn ở vỏ não trước trán, nơi mà những từ bạn đang đọc ngay bây giờ đang được xử lý, một khu vực mà những thông tin của bộ máy cảm giác được đánh giá và các hành động được lên kế hoạch.

Điều quan trọng để chúng ta hiểu một cách cảm tính là chúng ta đang không xử lý thông tin này, cho dù thông tin liên tiếp nhận được một cách có ý thức hay vô thức. Giống như những dữ liệu ở máy tính chúng ta được lưu trữ dưới dạng những mẩu thông tin rời rạc ở nhiều vị trí trên ổ cứng, sẵn sàng để hệ điều hành đưa lên màn hình ngay lập tức khi được hỏi đến, đầu vào cảm giác của chúng ta được lưu trữ dưới dạng các mẩu thông tin trong hàng triệu những tế bào tý hon được gọi là các nơ ron thần kinh và cùng với các sợi trục thần kinh tạo nên cấu trúc phức tạp của não bộ. Thông tin từ một kinh nghiệm đơn lẻ có thể được xử lý và lưu trữ ở một vài địa điểm khác nhau. Khi chúng ta nhớ lại một sự kiến, chúng ta đang chắp nối các mẩu thông tin từ nhiều địa điểm, đặt chúng vào đó bằng những vòng phản hồi, cho dù có ý thức hay vô ý thức. Đây là cách chúng ta tạo nên nhận thức về hiện thực. Chúng ta xây dựng nó khi cần dùng đến.


Nhìn nhận điều này dưới góc độ xây dựng thương hiệu, chúng ta có thể thấy những khuyết điểm trong việc tạo nên một “câu chuyện thương hiệu”, một khái niệm tuyến tính chỉ có thể hiểu được một cách có ý thức nhờ vỏ não trước trán. Thay vào đó, chúng ta cần xây dựng trong tâm trí khách hàng của chúng ta một “căn phòng” dự trữ đầy đủ những nguyên liệu làm nên thương hiệu với chất lượng cao để họ có thể tiếp cận và nấu các bữa tiệc thịnh soạn, ở cả cấp độ có ý thức và vô thức.

Đây là lý do tại sao việc tập trung vào các chi tiết ở các cấp độ truyền thông lại vô cùng quan trọng trong việc xây dựng thương hiệu. Tất cả đều được xử lý đưới dạng những mẩu thông tin ngoài kia dù có ý thức hay vô thức, đều sẵn sàng tập trung lại trong tâm trí của người tiếp nhận tại thời điểm nhận thức, cho dù là dưới dạng một tổng thể gắn kết và ấn tượng hay dưới dạng một mớ hỗn độn.
Những cái nhìn mới mẻ vào tâm trí chúng ta có thể là do những lời chỉ trích hiện tại mà ngành công nghiệp quảng cáo đang tự chuốc lấy do tập trung quá nhiều năm vào việc kể chuyện thương hiệu như một nguyên tắc cơ bản của truyền thông thương hiệu. Như David Berkowitz, Giám đốc Marketing của MRY, một công ty ở New York, viết trong số báo hiện tại của Advertising Age: “Hãy nghĩ về những thương hiệu bạn yêu thích: Apple, Tide, Gucci, Hyundai, hoặc bất kỳ thương hiệu nào bạn có thể nhận ra. Bạn có biết câu chuyện của họ không? Tôi vừa trả quá nhiều tiền để có được chiếc iPhone mới, nhưng tôi không thể kể cho bạn nghe câu chuyện của Apple.”

Tôi cũng không thể làm vậy, nhưng tôi có thể nói với bạn rằng Apple có một ý tưởng rất rõ ràng về ấn tượng họ muốn tạo ra và cách họ muốn được nhìn nhận, và họ đổ mồ hôi cho từng chi tiết trong mọi thứ họ làm trước khi trình bày chúng cho chúng ta.

Điều chúng ta học được từ các nhà lý luận học hàng đầu trong những môn học từ vật lý đến marketing cho chúng ta biết khi nói về truyền thông thương hiệu, chúng ta cần quan tâm hơn tới những vòng phản hồi cảm xúc chúng ta đang hình thành trong trí óc nhận thức nhạy bén của khách hàng, từ cách chúng ta thiết kế bao bì đến cách chúng ta viết chữ cho nhãn, từ cách chúng ta sử dụng truyền thông xã hội đến cách chúng ta chào đón khách hàng, từ màu sắc đến kiểu chữ chúng ta lựa chọn.

Tất cả đều có vai trò nhất định!
Theo Trí Thức Trẻ/ BrandDance

Thứ Năm, 27 tháng 11, 2014

Các nhãn hiệu hàng đầu làm logo ra sao?

Từ màu sắc, kiểu chữ đến kích cỡ chữ…, nếu được lựa chọn và thiết kế tinh tế và thích hợp, logo (biểu tượng) là một công cụ xây dựng hình ảnh đắc lực cho doanh nghiệp. 
Điều đáng nói là thật ra doanh nghiệp không cần phải đầu tư quá nhiều để có một logo tạo được ấn tượng tốt trong tâm trí của người tiêu dùng. Twitter từng bỏ ra chỉ 15 USD để mua logo hiện nay của công ty này. Nike thì chỉ mất có 35 USD cho biểu tượng “lưỡi liềm” nay đã trở nên quá quen thuộc với nhiều người tiêu dùng trên thế giới.


Tuy nhiên, các chuyên gia khuyên doanh nghiệp nên cân nhắc kỹ thông điệp mà mình muốn gửi gắm đến khách hàng thông qua logo. Dưới đây là những dữ liệu khá thú vị về ảnh hưởng của logo trong tiếp thị và câu chuyện làm logo của các nhãn hiệu hàng đầu thế giới.

DNSGCT/MarketingProf


Quyền lực của màu sắc trong xây dựng thương hiệu

Thương hiệu và màu sắc có mối quan hệ không thể tách rời, vì màu sắc là một phương tiện truyền tải thông điệp một cách nhanh nhất mà không cần dùng đến từ ngữ. 
Thương hiệu và màu sắc có mối quan hệ không thể tách rời, vì màu sắc là một phương tiện truyền tải thông điệp một cách nhanh nhất mà không cần dùng đến từ ngữ. 

Xây dựng thương hiệu là một cụm từ được gán cho công việc của nhà quảng cáo và marketing, nhưng ý nghĩa thực sự của nó là gì?
Các chuyên gia marketing định nghĩa "thương hiệu" là "tên, cụm từ, dấu hiệu, ký hiệu, thiết kế, hoặc tổng hợp của tất cả những yếu tốt trên, nhằm mục đích nhận dạng một sản phẩm hay dịch vụ của một công ty nhất định". 
Nói cách khác, một thương hiệu truyền tải "ý tưởng" của công ty hoặc sản phẩm. Nó phần nào tạo nên mối quan hệ với khách hàng. 
Ví dụ, hãy nhìn vào hình ảnh ba thương hiệu phía trên: 
Logo của hãng hàng không Nhật Bản - The JAL (Japan AirLines) có nhiều yếu tố cấu thành: Chú chim biểu tượng cho sự tung bay, màu đỏ biểu thị sức mạnh. Tại châu Á, màu đỏ cũng là biểu trưng của sự may mắn. Logo có hình vòng tròn cùng sắc đỏ - trắng cấu thành hình ảnh cờ của nước Nhật. 
Vì vậy, toàn bộ logo tạo nên một hình ảnh quyền lực về một hãng hàng không của đất nước mặt trời mọc, kèm theo lời chúc may mắn đối với hành trình. 
Logo của AT&T là một thiết kế giật được nhiều giải thưởng. Hình quả địa cầu tượng trưng cho một thế giới được bao quanh bởi thông tin điện tử. Cụ thể hơn, quả địa cầu được cấu thành bởi nhiều mảng "sáng" và "tốt". Do đó, tổng bố cục tạo nên ấn tượng về một quả địa cầu 3 chiều được chiếu sáng từ xa. Màu xanh lam nhạt tạo nên cảm giác tin tưởng và hiện đại. 
Còn logo của UPS - dịch vụ chuyển phát bưu kiện của Mỹ - là một ví dụ tuyện vời về việc chỉ một màu sắc cũng có thể truyền tải ý tưởng. Màu nâu không phải là một màu sắc vui nhộn hay hiện đại, màu nâu là màu của đất đai, tượng trưng cho sự đáng tin và kiên cố. 
Quyền lực của hình ảnh
Chỉ một hình ảnh cũng truyền tải rất nhiều thông tin trong khoảng thời gian ngắn vì chúng ta nhận thức được hình ảnh ngay tức khắc, quá trình phân tích từ việc đọc và nghe mất nhiều thời gian hơn. 
Một nghiên cứu gần đây cho thấy hình ảnh thương hiệu cũng có sức mạnh như tín ngưỡng. 
Trong thí nghiệm, khi chủ thể được xem các hình ảnh có liên quan tới những thương hiệu mạnh như iPod, Harley-Davidson, Ferrari,... não bộ của họ phản ứng tương tự như khi họ được xem các hình ảnh về tín ngưỡng tôn giáo.
Quyền lực của hình khối và màu sắc
Hình ảnh lại được cấu thành bởi hình khối và màu sắc. Có câu nói truyền miệng: "Một bức ảnh đáng giá nghìn từ".
Nhiều hình khối và màu sắc làm dấy lên những cảm giác tự nhiên đối với tất cả mọi người trên toàn thế giới: Ví dụ, đường thẳng ngang tạo cảm giác vững chắc, còn đường thẳng dọc tạo cảm giác biến hóa. 
Màu đỏ tạo cảm giác nóng, màu xanh thì lạnh và ướt át, hoặc tạo cảm giác vô định như bầu trời vậy. 
Về hình khối
Hình khối và màu sắc cần ăn nhập với nhau để truyền tải thông điệp. Vì vậy, cần hiểu về hình khối nếu muốn hiểu được sức mạnh của màu sắc trong việc xây dựng thương hiệu. 
Thậm chí những hình khối cơ bản nhất cũng làm dấy lên cảm giác về sự mềm mại hay cứng rắn, vững chãi hay đe dọa. 
Bức ảnh dưới đây tập hợp các biểu tượng được xây dựng từ các hình khối cơ bản: 

Quyền lực của màu sắc
Não bộ chúng ta tự động phản hồi đối với màu sắc. Ví dụ, chúng ta dừng xe khi gặp đèn đỏ, đi tiếp khi đèn chuyển màu xanh. 
Hãy xem xét tác dụng của màu sắc trong những hình ảnh dưới đây:

Quyền lực của màu sắc trong việc xây dựng thương hiệu
Sau khi nhìn một hình ảnh thương hiệu, màu sắc là thứ lưu lại trong tâm trí người xem sau cùng, sau đó đến hình khối, sau đó mới đến chữ. 

Ví dụ, logo thật của McDonald's rất dễ nhận ra trong hình ảnh dưới đây. 

Rất nhiều thương hiệu chỉ dựa vào màu sắc để khiến khách hàng dễ dàng nhận ra. 
Màu sắc và những con số
Các nghiên cứu cho thấy 60% trong số chúng ta sẽ quyết định liệu họ có bị hấp dẫn bởi một thông điệp hay không chỉ dựa vào màu sắc!
Ngoài ra, màu sắc làm tăng khả năng nhận diện của một thương hiệu lên tới 80%. 
Ví dụ về màu sắc trong xây dựng thương hiệu
1. Màu sắc biểu tượng của tự nhiên và toàn cầu
Hai màu sắc khác nhau của logo FedEx thể hiệu rõ tính toàn cầu của màu sắc. 
Màu lục đại diện cho dịch vụ vận chuyển đường bộ; màu cam biểu trưng cho sức mạnh và tốc độ, được chọn làm đại diện cho dịch vụ vận chuyển đường không. 
Một ví dụ khác có thể nhìn thấy trong sản phẩm gia dụng phổ biến: Bột giặt.
Lần sau ra siêu thị, bạn hãy quan sát màu sắc của các nhãn hiệu bột giặt. Màu được sử dụng nhiều nhất là xanh lam và màu cam.
Màu lam tạo cảm giác sạch sẽ, còn màu cam mang lại ấn tượng về sức mạnh. Vì vậy, sự kết hợp giữa lam và cam sẽ truyền tải thông điệp: "Sức mạnh tẩy sạch vết bẩn"
Bao bì thuốc lá là một ví dụ khác của màu sắc trong thương hiệu. Để ý cách các thương hiệu dùng màu xanh ở nhiều sắc độ để phân biệt thuốc lá hương bạc hà với các loại thuốc lá hương tự nhiên. 
Hiện giờ, khi Mỹ ban lệnh cấm các công ty sử dụng từ "nhẹ" trên bao bì để ngụ ý một số loại thuốc lá ít độc hại hơn những loại khác, nhiều công ty chuyển sang sử dụng màu vàng, bạc và các màu nhạt trên bao bì để lách luật. 
Úc là quốc gia đầu tiên trên thế giới yêu cầu các công ty sản xuất thuốc lá đóng gói bao bì trắng trơn. Một số nước khác thì chọn màu đồng phục là nâu đỏ đậm, hoặc các hình ảnh thể hiện tác hại của thuốc lá đối với sức khỏe con người được in trên bao bì. 
2. Màu sắc gợi sự sáng tạo và tưởng tượng
Một số thương hiệu không đi theo lối mòn màu sắc. Màu hồng rực trong logo T-Mobile là một sắc màu bất ngờ đối với thị trường điện thoại di động.
Đây là một quyết định khá liều lĩnh, nhưng nó đã đem lại thành công trong việc giúp thương hiệu được nhận diện dễ dàng trong một thị trường cạnh tranh gay gắt. 
3. Thành công và thất bại trong việc sử dụng màu sắc
Màu sắc dùng trong đồng phục đội bóng cũng là một dạng xây dựng thương hiệu. Nhưng đôi lúc màu sắc được sử dụng hoàn toàn sai lầm. 
Ví dụ, màu sắc trong đồng phục đội bóng bầu dục Wyoming được đánh giá là... xấu nhất thế giới. 
Tại sao vậy? Nó được đánh giá là màu sắc tạo nên sự thành công của logo UPS cơ mà? 
Nhưng màu nâu không phải là một màu tạo cảm giác mạnh mẽ, nó gợi cảm giác đáng tin như Mẹ Đất, nhưng thiếu năng lượng. 
Tóm lại, nếu vẫn còn nghi ngờ về sức mạnh của màu sắc trong việc xây dựng thương hiệu, hãy nhìn vào hai "logo" dưới đây: 
Theo Diễn đàn đầu tư

 

Dùng màu gì trên website để khách hàng buộc phải ấn vào nút "Mua"?

Trong một trang web bán hàng, hình ảnh và màu sắc tạo ảnh hưởng lớn hơn nhiều so với từ ngữ. 
Thống kê cho thấy, thời gian trung bình khách hàng sử dụng để ghé thăm một trang web bán hàng đang ngày càng giảm dần (hiện tại là 2,4 giây). Nó cho thấy, chúng ta có rất ít lượng thời gian để thuyết phục người dùng ở lại trang web của mình.


Vì vậy, tận dụng tối đa những yếu tố mà bạn có là điều chắc chắn phải làm. Trong đó, hình ảnh và màu sắc hết sức quan trọng. Trong một trang web bán hàng, nó tạo ảnh hưởng lớn hơn nhiều so với từ ngữ. 

Ví dụ, vào năm 2011 một nghiên cứu cho thấy những người tiếp xúc với màu đỏ có khả năng phản ứng nhanh hơn. Một nghiên cứu rất thú vị khác cho thấy rằng việc sử dụng đèn đường màu xanh da trời được cho là có thể ngăn chặn tội phạm đường phố! Khi bạn tạo dựng được "landing page" và các nút "call to action" thành công, khi đó bạn sẽ thu hút được một lượng lớn khách hàng tiềm năng. 

Dưới đây là một số ý nghĩa của màu sắc. Hãy lựa chọn màu phù hợp nhất với website bán hàng của bạn:

Để lựa chọn bảng màu cho trang web bán hàng của mình, bạn cần dựa vào khoa học. Với các bước sóng khác nhau của màu sắc, con người sẽ có phản ứng cảm xúc khác nhau. Mỗi một màu sắc trong bảng màu gợi lên một tâm trạng hay cảm giác khác nhau. Mặc dù các hiệu ứng màu sắc có thể mang tính chủ quan, và thay đổi với từng nền văn hóa nhưng một số màu sắc có một ý nghĩa phổ quát. Ví dụ, màu đỏ được coi là màu sắc ấm áp, và màu xanh da trời là màu lạnh.

Vì mỗi màu sắc kích thích một phản ứng tương ứng, chúng ta có thể tận dụng màu sắc để thu hút người dùng click vào nút mua hàng. 

Chẳng hạn, những người mua sắm tùy hứng phù hợp nhất với màu đỏ, đen và xanh dương. Bạn sẽ thấy những màu sắc này trong các cửa hàng thức ăn nhanh, trung tâm thương mại và các khu mua bán hàng giảm giá - và có thể sử dụng những màu này với nút "mua" trên website của mình.

Những nhãn hiệu muốn xây dựng hình ảnh thân thiện, vui vẻ và tự tin sẽ sử dụng màu cam trong công ty và trên trang web của họ: Fanta là ví dụ, màu này thể hiện sự nhiệt huyết và thôi thúc hành động ngay lập tức!
Bạn muốn thu hút người dùng người dùng mong muốn sự ổn định và muốn có cảm giác an toàn? Hãy tìm hiểu màu sắc đặc trưng của các công ty như American Express, Skype, và Pfizer và chọn màu xanh da trời cho trang web của bạn. Một nút "call to action" màu xanh sẽ truyền tải được thông điệp: Hãy dựa vào chúng tôi; bạn có thể tin tưởng chúng tôi; chúng tôi sẽ cung cấp cho bạn dịch vụ đáng tin cậy. Xanh navy (xanh hải quân) lôi kéo sự chú ý của người mua sắm có ngân sách hạn chế.
Rõ rằng là cần phải thiết kế nút "call to action" của bạn sao cho nó thu hút được sự chú ý của khách hàng trong khi vẫn làm nổi bật thiết kế của trang web. Bên cạnh đó, bạn sẽ mất nhiều thời gian để cải thiện hiệu suất landing page của bạn với màu sắc phù hợp.

Vì vậy, nếu bạn đang băn khoăn màu sắc nào phát huy tác dụng lôi kéo khách hàng tốt nhất thì bạn nên nghĩ xem những đặc tính nào khiến khách hàng tiềm năng của bạn thấy ngưỡng mộ hoặc ấn tượng. Đồng thời, hãy suy nghĩ về những hành động giúp bạn thu hút khách hàng. Thông qua các kênh bán hàng của bạn, sử dụng màu sắc như một tín hiệu thu hút, bạn có thể thuyết phục khách hàng tiềm năng trở thành khách hàng trung thành của mình.
Theo Tri Thức Trẻ

9 nguyên tắc thành công cho thương hiệu

Đó là những nguyên tắc đã được kiểm chứng từ những thương hiệu thành công.
 
Đặt trọng tâm

Những doanh nghiệp đi cùng thương hiệu thành công luôn biết “tập trung vào chuyên môn”! Họ sở hữu một mục đích kinh doanh cho thương hiệu rất cụ thể và giá trị của tổ chức cũng rất rõ ràng. Ngay cả những mục tiêu kinh doanh ngắn hạn và dài hạn cũng được xác định rất rõ ràng.

Trong lúc doanh nghiệp tăng trưởng và mở rộng, có thể sẽ cần đến việc thay đổi trong định vị thương hiệu để đảm bảo tính tương thích trong thông điệp kinh doanh và chủ đích của doanh nghiệp. Hãy nghĩ đến câu hỏi sau: Đâu là điều doanh nghiệp thật sự muốn đạt được? Đâu là vị trí doanh nghiệp muốn sở hữu để đạt đến những mục tiêu trong kinh doanh?


Cụ thể và minh bạch

Thông điệp và hình ảnh thương hiệu luôn phải trong suốt như pha lê. Một khi thương hiệu và công việc kinh doanh tiến triển, việc “mài giũa” và “tinh chế” những ngôn từ, giá trị trong thông điệp xây dựng thương hiệu là rất cần thiết. Luôn cải tiến vị trí bán hàng độc nhất và hướng đến sự khác biệt để người tiêu dùng biết đích xác những gì họ nên kỳ vọng khi mua sắm sản phẩm và dịch vụ từ doanh nghiệp.

Đóng góp

Chúng ta luôn nghe đến câu ngạn ngữ “Cho là nhận” và điều ấy đúng trong kinh doanh. Càng đóng góp nhiều vào thế giới và cộng đồng, doanh nghiệp càng nhận lại nhiều hơn. Lập kế hoạch cho chiến lược thiện nguyện đóng góp của thương hiệu và đảm bảo công tác xã hội ấy phù hợp với nền tảng khách hàng cốt lõi của doanh nghiệp.

Kết nối

Luôn mở rộng mối quan hệ với những thương hiệu hỗ trợ khác, đặc biệt là những thương hiệu chia sẻ cùng doanh nghiệp những giá trị kinh doanh và nhóm khách hàng mục tiêu. Chủ động và sẵn sàng tạo ra những chiến lược xây dựng thương hiệu cộng tác mang tính sáng tạo, chẳng hạn như chiến lược quảng bá chung hình ảnh giữa thương hiệu quần áo trẻ em Osh Kosh và bột giặt Tide.

Cả hai thương hiệu cùng có lợi khi khiến khách hàng tỏ ra hứng thú và gắn kết hơn với sản phẩm của cả hai.


Tạo dựng nên cộng đồng

Không một doanh nghiệp nào có thể thành công khi hành động đơn thân độc mã, vì thế hãy tạo một cộng đồng bao gồm những người luôn ủng hộ và chủ trương bảo vệ mình, có thể họ nằm trong lĩnh vực mình kinh doanh hoặc trong nhóm khách hàng mục tiêu của doanh nghiệp. Ngoài ra, luôn nắm bắt văn hóa của doanh nghiệp và quản lý chặt chẽ sự tăng trưởng cũng như công tác tuyển dụng nhằm đảm bảo những tiêu chuẩn cốt lõi của nền văn hóa ấy luôn được giữ vững và đáp ứng.

Duy trì niềm tin

Niềm tin chỉ có thể xây dựng và củng cố từng bước một thông qua thời gian. Vì thế hãy bắt đầu với nơi doanh nghiệp đang đứng và những gì doanh nghiệp biết. Doanh nghiệp đang có một đội ngũ nhân tài, những kỹ năng, sản phẩm hoặc dịch vụ mang đến cho thế giới người tiêu dùng. Hãy mài giũa những kỹ năng và mở rộng năng lực lãnh đạo của tổ chức. Đấy chính là những bước đi đầu tiên và nền móng để gia tăng niềm tin trong doanh nghiệp.

Thống nhất

Quản lý công việc kinh doanh và thương hiệu nhằm đảm bảo mọi thứ doanh nghiệp làm đều hướng đến cùng một thông điệp. Chẳng hạn, về bản chất nếu thương hiệu mang tính công nghệ cao, có lẽ doanh nghiệp sẽ không muốn kết nối công việc kinh doanh với các hoạt động đậm chất nghệ thuật như múa ba lê hay dàn nhạc giao hưởng. Thiếu tính nhất quán sẽ khiến khách hàng mục tiêu của doanh nghiệp mất phương hướng và sao lãng.

Nhất quán

Đảm bảo mọi sản phẩm hay dịch vụ doanh nghiệp cung ứng đều nhất quán về giá trị và chất lượng. Danh tính của một thương hiệu sẽ mất cả một thế hệ để tạo dựng nhưng có thể bị phá hủy trong chốc lát. Hãy tưởng thưởng cho các khách hàng trung thành và thường xuyên tạo nên những cảm giác thích thú về thương hiệu của mình. Chắc chắn rằng doanh nghiệp và các nhân viên trong toàn tổ chức mỗi ngày đều làm việc vượt qua ngưỡng xuất sắc trong mỗi cá nhân.

Khơi dậy tầm ảnh hưởng

Làm tất cả để tạo nên sự ảnh hưởng từ thương hiệu của mình. Nếu hợp lý, hãy đặt thương hiệu của doanh nghiệp bên cạnh những nhân vật nổi tiếng hoặc tạo ra những chương trình tài trợ mang tính cộng đồng xã hội. Kết nối thương hiệu với những hoạt động có thể giúp doanh nghiệp nâng tầm giá trị thương hiệu và sự xuất hiện trước nhiều người hơn.

Nhưng ghi nhớ rằng hình ảnh và danh tính của chủ doanh nghiệp và những cá nhân đóng vai trò đại diện cho thương hiệu, như nhân viên bán hàng chẳng hạn, cũng mang đến những tác động không nhỏ cho sự ảnh hưởng của một thương hiệu.

DNSGCT  

Bài đăng phổ biến