Hiển thị các bài đăng có nhãn doanh nghiệp. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn doanh nghiệp. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 14 tháng 12, 2014

Làm freelancer: Cái giá quá đắt để đánh đổi lấy tự do?

Mới nghe qua thì đây quả là công việc mơ ước với nhiều người, nhất là những ai không chịu được áp lực gò bó tại các văn phòng công ty. Tuy nhiên, đó mới chỉ là một mặt của vấn đề. Tự do là vậy nhưng bạn là người đứng mũi chịu sào, chấp nhận rủi ro. 

Làm freelancer không còn lạ lẫm ở Việt Nam, nhất là với giới trẻ. Đây được hiểu là một người làm việc tự do, thời vụ, không cộng tác dài hạn hay trở thành nhân viên chính thức của bất kỳ tổ chức, doanh nghiệp nào. 

Hiện ở Việt Nam freelancer tập trung vào hai nhóm nghề chính: Nhóm thiên về sáng tạo như sản xuất âm nhạc, đạo diễn chương trình, tổ chức sự kiện, nhiếp ảnh gia, thiết kế (đồ họa, nội thất, thời trang, …), kiến trúc sư, stylist, viết báo, PR, copywriter...; Nhóm thứ 2 gồm những lĩnh vực đòi hỏi sự đào tạo bài bản chuyên sâu và dày dạn kinh nghiệm, như tư vấn luật, tư vấn thành lập - tái cấu trúc doanh nghiệp, kế toán, bác sỹ, dịch thuật, lập trình, IT…

Chưa bàn đến khả năng và trình độ nhưng nếu là một freelancer “uy tín”, được nhiều công ty và tổ chức biết đến đồng nghĩa với việc bạn dễ dàng có cơ hội nắm bắt được những món hời hợp tác, dự án hay hợp đồng béo bở mang lại thu nhập "khủng" chỉ trong một thời gian ngắn. 

Hấp dẫn hơn nữa khi trở thành một freelancer là bạn không cần phải tất bật thức dậy vào mỗi sáng, lao đến công ty để “điểm danh”, chịu ánh nhìn khó chịu của sếp khi đi làm muộn hay tuân thủ những luật lệ gò bó cứng nhắc tại các cơ quan, công sở.

Bạn có thể thoả sức tung hoành, nghỉ tuỳ thích, chọn lựa công việc, dự án mà bạn thấy sẽ mang lại lợi ích và số tiền thù lao cao nhất. Tóm lại bạn được hoàn toàn chủ động về mặt thời gian, làm chủ và điều khiển những gì mình đang làm và muốn làm mà không phải phụ thuộc vào bất cứ ai.

Mới nghe qua thì đây quả là công việc mơ ước với nhiều người, nhất là những ai không chịu được áp lực gò bó tại các văn phòng công ty. Tuy nhiên, đó mới chỉ là một mặt của vấn đề. Tự do là vậy nhưng bạn là người đứng mũi chịu sào, chấp nhận rủi ro và quan trọng là không phải ai cũng có thể trở thành freelancer.

Gánh vác toàn bộ trách nhiệm

Nếu làm trong một tổ chức, bạn có thể dễ dàng chia sẻ trách nhiệm công việc cùng những đồng nghiệp, những người trong cùng đội thì freelancer hoàn toàn khác. Bạn là người duy nhất chịu trách nhiệm cho toàn bộ công việc mình đang làm, thậm chí kiêm cả kế toán thu chi và vô số đầu việc không tên khác. Điều này có nghĩa là một khi thiếu kỷ luật, quản lý không chặt chẽ và dễ dãi với bản thân sẽ rất dễ dẫn đến hậu quả khôn lường.

Rủi ro rình rập

Đi kèm với trách nhiệm là những rủi ro tiềm ẩn. Bạn buộc phải chấp nhận nó dù muốn hay không. Thậm chí bạn không được phép thất bại bởi việc này sẽ khiến danh tiếng của bạn bị ảnh hưởng nghiêm trọng và những công ty khác không muốn thuê bạn nữa.

Tự do nhưng thực chất cực kỳ gò bó

Ưu điểm đầu tiên ai cũng nhìn thấy khi nhắc đến freelancer là tự do. Tuy nhiên, đây lại cũng chính là nỗi khổ thầm kín của rất nhiều người trong nghề. My, cựu sinh viên thiết kế đồ hoạ FPT Arena hiện đang là freelancer cho biết: “Là freelancer thực ra cực lắm. Bình thường khá rảnh nhưng đến lúc có việc thì luôn trong tình trạng cày thâu ngày đêm". Ngoài ra, phong cách làm việc của freelancer cũng liên tục thay đổi bởi phải tiếp xúc với các công ty, dự án và đối tác khác nhau.

Không phải ai cũng có thể trở thành freelancer

Freelance đồng nghĩa với vốn sống, bề dày kinh nghiệm và chuyên môn sâu trong công việc. Hiếm ai vừa tốt nghiệp đã trở thành một Freelancer giỏi. Ít nhất, họ phải trải qua vài năm trong một vài công ty lớn nhỏ, có những sản phẩm chất lượng tốt, đạt đến độ chín nhất định về nghề nghiệp, tạo được biên độ quan hệ rộng…

Ngoài ra, để thực sự thành công, một Freelancer bao giờ cũng phải có chiến lược marketing bản thân hiệu quả, biết tạo dấu ấn riêng, tiếp thị thương hiệu của chính mình, đó là chưa kể một loạt kỹ năng thuyết trình, đàm phán, kỹ năng làm việc nhóm với các freelancer khác trong cùng dự án…

Trong chán ngoài thèm

Thực tế có rất ít người thành công với nghề freelancer. Không phải ai cũng đáp ứng được những đòi hỏi của nghề này. Ngay cả những freelancer dày dạn kinh nghiệm, nhiều khi cũng cảm thấy mệt mỏi sau quãng thời gian “lăn lộn” với nghề được cho là "tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ".

Hơn nữa, hiện ngày càng có nhiều người trở thành freelancer và điều này tạo ra môi trường cạnh tranh khốc liệt. Chính vì vậy, nhiều người phải nghĩ đến việc tìm kiếm một công việc ổn định tại doanh nghiệp hay tổ chức nào đó. 

Kết luận: Bản thân công việc như một freelance không có gì sai, vấn đề là lựa chọn của bạn có đúng hướng và phù hợp với bản thân không. Nếu là người thích phiêu lưu và cá tính mạnh, đủ bản lĩnh đối phó với những biến cố, chấp nhận rủi ro thì Freelance rõ ràng là con đường thích hợp dành cho bạn. Còn nếu bạn mong muốn cuộc sống êm đềm, công việc và thu nhập ổn định, thì hãy chung thủy với lựa chọn gắn bó với một công ty nào đó. 
Cafebiz


>> Nghề sales: 'Blacklist' của cử nhân, xuất phát điểm của lãnh đạo

Thứ Năm, 4 tháng 12, 2014

Doanh nghiệp Australia tìm đối tác Việt Nam

Theo tin từ Thương vụ Việt Nam tại Australia, một số doanh nghiệp Australia đang tìm kiếm đối tác Việt Nam là doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu quần áo nam, tủ bếp.

Cụ thể:
Doanh nghiệp Australia tìm doanh nghiệp Việt Nam sản xuất và xuất khẩu quần áo nam:

Công ty MJUZ Pty Ltd trading as Joseph Uzumcu
Điện thoại: +61
8 8232 5400
Website: http://uzumcu.com.au
Email: admin@uzumcu.com.au
Người nhận liên hệ: Janelle Fisher - email: Janelle@uzumcu.com.au

Doanh nghiệp Australia tìm doanh nghiệp Việt Nam sản xuất và xuất khẩu tủ bếp:
Công ty Glossy Fine Shine
Địa chỉ: Door 6, 36-52 National Boulevard - Campbellfield VIC 3061
Điện thoại: (03) 9357 6222
Fax: (03) 9357 0622
Người nhận liên hệ: Mr. John Sfregola
Điện thoại: 0414 303 149 - email: John@glossyfine.com.

Theo Doanh Nhân Sài Gòn

Thứ Tư, 3 tháng 12, 2014

Các thương hiệu lớn khởi nghiệp "trái nghề"

Nếu như Nokia từng sản xuất giấy thì hãng kem đánh răng Colgate lại khởi đầu với bán nến và xà phòng.

1. Avon

David H. McConnell thành lập Avon năm 1886 với ngạch kinh doanh chủ yếu là bán sách. Bên cạnh đó, ông cũng dành tặng cho những khách hàng nữ của mình món quà nhỏ là lọ nước hoa. Không lâu sau, nước hoa của McConnell trở nên nổi tiếng hơn sách của ông rất nhiều, và Avon nhanh chóng trở thành một trong những cái tên hàng đầu trong lĩnh vực này.

2. Nokia

Gã khổng lồ Phần Lan ra đời năm 1865, khi Fredrik Idestam mở một nhà máy sản xuất bột giấy bên bờ Tammerkoski. Sau đó, Nokia chuyển qua một số ngành công nghiệp khác, trước khi định hình mình như một đại gia làng điện thoại hồi thập niên 60 của thế kỷ trước.

3. 3M

3M là viết tắt của Minnesota Mining and Manufacturing Company - công ty chuyên cung cấp chất khoáng corundum cho việc chế tạo bánh mài. Tuy nhiên, giờ đây người ta biết đến 3M nhiều hơn ở lĩnh vực văn phòng phẩm, mà điển hình là loại giấy nhắn (Post-it Notes) danh tiếng.

4. Wrigley
Cũng giống như Avon, nhãn kẹo cao su hàng đầu thế giới này khởi nghiệp chỉ như một tặng phẩm đính kèm. Cụ thể, đó là khiWilliam Wrigley, Jr. thành lập công ty năm 1981 chuyên bán xà phòng và bột nở, ông đã sử dụng kẹo cao su để dụ dỗ khách hàng. Cuối cùng, khách hàng không quan tâm đến bột nở mà chuyển qua kẹo cao su.

5. DuPont

Dupont - tập đoàn hóa chất lớn của Mỹ được thành lập năm 1802. Tuy nhiên, trước khi cung cấp các sản phẩm đa dạng như hiện nay, Dupont từng chỉ sản xuất duy nhất thuốc súng và sau đó là kiêm thêm thuốc nổ.

6. Tiffany & Co.

Đồ trang sức và những chiếc giường sang trọng không phải là lĩnh vực kinh doanh ban đầu của Tiffany. Thay vào đó, nó là một cửa hàng sách có tên đầy đủ là Tiffany, Young, and Ellis hồi năm 1837.

7. Hasbro

Công ty đứng đằng sau Transformer và G.I. Joes bắt đầu kinh doanh từ năm 1923 với tên đầy đủ là Hassenfeld Brothers. Khi ấy, họ chủ yếu bán các sản phẩm từ vải và dần chuyển sang kinh doanh đồ dùng học tập. Đến năm 1952, bằng việc giới thiệu Mr. Potato Head danh tiếng, Hasbro chính thức bước vào làng sản xuất đồ chơi cho trẻ em.

8. Coleco

Coleco là viết tắt của Connecticut Leather Company - nghĩa là công ty hàng da của Connecticut. Tuy nhiên, giờ đây nó được biết đến với lĩnh vực kinh doanh hàng điện tử sau khi mua lại RadioShack hồi năm 1963.

9. Raytheon

Nhà thầu quốc phòng của Mỹ này bắt đầu kinh doanh năm 1922 với nhóm đồ gia dụng, Sau đó 3 năm, nó nhanh chóng nhảy sang lĩnh vực điện tử và trở thành Raytheon như được biết đến hiện nay.

10. Colgate

Công ty chuyên về các sản phẩm vệ sinh răng miệng này được thành lập năm 1806. Tuy nhiên, trước năm 1873, Colgate chỉ sản xuất xà phòng, nến và bột hồ.

11. Xerox

Khi mới khởi nghiệp năm 1906, Xerox được biết đến như hãng sản xuất giấy ảnh và các thiết bị liên quan trong lĩnh vực này. Tuy nhiên, đến năm 1959, bằng chiếc máy Photocopy Xerox 914, hãng bắt đầu chuyển sang sản xuất máy photo và máy in.

12. Berkshire Hathaway

Công ty chuyên về đầu tư và bảo hiểm của tỷ phú lừng danh Warren Buffett được thành lập từ năm 1839 với lĩnh vực kinh doanh chủ yếu là dệt may. Đến năm 1962, Buffett mua lại công ty và chuyển hướng sang các lĩnh vực khác như chúng ta thấy hiện nay.
Doanh Nhân Sài Gòn

Thứ Hai, 1 tháng 12, 2014

12 bài học kinh doanh từ Starbucks

Năm 1971, một tiệm café được mở tại khu chợ lịch sử Pike Place ở Seattle. Quán café này sau đó đã trở thành tiệm café của thương hiệu café lớn nhất thế giới - Starbucks.

Với hơn 21.000 cửa hàng tại 65 quốc gia, Starbucks hiện là một trong những công ty tăng trưởng nhanh nhất nước Mỹ. Công ty này đã mở rộng mạng lưới từ 425 cửa hàng vào năm 1994 đến 19.767 cửa hàng vào năm 2013.
Theo INC, có 12 bài học kinh doanh mà các doanh nghiệp (DN) có thể học được từ thương hiệu này. 

1. Bám sát sứ mệnh 

Starbucks chỉ có duy nhất sứ mệnh đơn giản là nuôi dưỡng và truyền cảm hứng cho cộng đồng. Starbucks vừa là một người bạn, một ly café và một đồng nghiệp của khách hàng.

Sứ mệnh này đã theo sát công ty trong suốt 4 thập kỷ qua. Định vị bản thân không chỉ là một tiệm café đơn tuần, Starbucks biến các cửa hàng của mình thành nơi để khách hàng có thể tạm trốn khỏi những bộn về của công việc thường nhật. Mặt khác, cửa hàng còn trở thành trung tâm của những cuộc tụ họp bạn bè hoặc đàm phán công việc dành cho các doanh nhân.

Starbucks muốn đưa đến thông điệp rằng, bất kể khách hàng bao nhiêu tuổi, sống ở đâu, làm nghề gì thì đều có chung một trải nghiệm tại Starbucks.

2. Hỏi ý kiến khách hàng
Nếu bạn từng đến những quán Starbucks nằm ngoài địa điểm quen thuộc mình hay đến, bạn có thể sẽ nhận ra rằng nhân viên của quán thỉnh thoảng sẽ hỏi bạn đang tìm kiếm điều gì. Đây là một kỹ thuật đơn giản nhưng vô cùng hiệu quả trong dịch vụ chăm sóc khách hàng mà những người kinh doanh dịch vụ đều biết.


Khi bạn tìm hiểu được nhu cầu tìm kiếm hiện tại của khách hàng, bạn có thể cùng người đó tìm ra những lựa chọn phù hợp cho bản thân. Điều này giúp gia tăng sự gắn kết của khách hàng với DN.

3. Hiểu khách hàng, hiểu cả nhân viên
 
Nhân viên là cánh tay trung gian giúp bạn chuyển tải những giá trị trong dịch vụ đến khách hàng. Vì vậy, bạn cần phải hiểu cả nhân viên của bạn. Khi đã hiểu, bạn sẽ khai thác được những tiềm lực của mỗi nhân viên của mình.


Dòng sản phẩm độc quyền Frappuccino của Starbucks là sáng tạo của một nhân viên tên Dina Campion của Công ty.

4. Hãy sáng tạo
Cửa hàng Starbucks ở New Delhi
Starbucks được xây dựng trên nền tảng gắn kết chặt chẽ với các giá trị cốt lõi ban đầu, song công ty cũng là nơi phát huy mạnh mẽ sự sáng tạo.

Ví dụ, khi nhận ra rằng khách hàng có nhu cầu ngồi lại quán lâu hơn, Starbucks đã bắt đầu cung ứng dịch vị Wifi miễn phí từ năm 2010. Khi nhận ra rằng khách hàng muốn các sản phẩm chế biến tại nhà, Starbucks đẩy mạnh cung ứng bộ café pha sẵn mang tên Via và hệ thống máy pha café Verismo.

Hiện nay, Công ty còn cho phép khách hàng trả tiền qua ứng dụng của iPhone. Đây là công ty đầu tiên áp dụng công nghệ này trong thị trường kinh doanh dịch vụ café tại Mỹ.

Duy trì những yếu tố cốt lõi truyền thống là tốt, nhưng hãy đủ linh hoạt để chấp nhận và chào đón các thay đổi mới để thích nghi với môi trường kinh doanh đang không ngừng thay đổi. 

5. Hãy có trách nhiệm 

Trong cung cấp dịch vụ, thỉnh thoảng chúng ta luôn có những sai lầm, ví dụ ghi nhầm thức uống, tính nhầm hóa đơn... Điều tạo nên khác biệt giữa các đơn vị chính là khả năng nhanh chóng nhận lỗi và sửa sai đối với khách hàng.

Bạn cần đảm bảo là đã tập huấn cho nhân viên đủ linh hoạt để xử lý có trách nhiệm trong các tính huống nhầm lẫn đáng tiếc. 

6. Đi ngược chiều gió 

Bạn sẽ nhận ra rằng Starbucks có mặt ở hầu hết các ngã tư trong những thành phố mà thương hiệu này xuất hiện. Điều này nằm trong một chiến dịch của Starbucks.

Thay vì chỉ tập trung vào những khu vực đông dân cư, những khu vực có xuất hiện đối thủ cạnh tranh, Starbucks chọn có mặt tại tất thảy các ngã tư mà nó có thể thuê được mặt bằng. Điều này có thể gây lên áp lực trong chi phí đầu tư nhưng lại giúp Starbucks hạn chế được tối đa cơ hội của các đối thủ cạnh tranh khác.

Về chiến lược, thỉnh thoảng bạn cần phải "đi ngược chiều gió", làm những điều mà các daonh nghiệp khác không làm. Các quyết định này đầy mạo hiểm nhưng cũng mang lại giá trị lợi nhuận lớn hơn gấp nhiều lần cho DN. 

7. Đẩy mạnh truyền thông mạng xã hội

Hầu hết chúng ta đều đồng ý rằng mạng xã hội đang đóng vai trò quan trọng trong quảng cáo và marketing hiện đại. Tuy nhiên, không phải ai cũng tối ưu hóa được hiệu quả của chúng.

Starbucks trong nhiều năm qua đã kiên trì kể câu chuyện thương hiệu của mình trên Instagram. Mạng xã hội chia sẻ hình ảnh này đã giúp công ty không chỉ quáng bá cả sản phẩm mới mà còn lan tỏa giá trị Starbucks thông qua các hình ảnh khách hàng thưởng thức café tại cửa hàng cùng bạn bè, hoặc kết quả công việc sáng tạo của các nghệ sĩ khi uống café Starbucks.

Bài học của Starbucks không chỉ ở việc quản trị một chiến dịch marketing về mạng xã hội mà còn nằm ở việc chọn mạng xã hội phù hợp để gắn kết với những khách hàng mục tiêu của DN. 

8. Mọi thứ đều quan trọng

 Chú ý hoàn thiện từng chi tiết nhỏ nhất liên quan đến hình ảnh thương hiệu.
Khi một kế toán đề nghị cắt giảm chi phí cho công ty bằng việc thay giấy sử dụng trong nhà vệ sinh từ hai lớp sang một lớp, Starbucks đã từ chối. Vì Starbucks nhận ra rằng việc làm mỏng đi tờ giấy vệ sinh sẽ đối lập với hình ảnh một "thương hiệu sang trọng với giá phải chăng" mà công ty đề ra. 

9. Chọn đúng đối tác

Trong nhiều năm kinh doanh, Starbucks có lượng đối tác khổng lồ để mở rộng mạng lưới. Ví dụ, Starbucks đã hợp tác với cửa hàng bán sách nổi tiếng thế giới là Barnes & Noble vào năm 1993 để cung ứng café tại các cửa hiệu sách của thương hiệu này.

Gần đây, thương hiệu này lại hợp tác với Apple cho phép khách hàng có thể trả tiền mua một ca khúc họ vừa nghe trong quán café từ iTunes.

Công ty cũng liên kết với các tổ chức như Hội chữ thập đỏ Mỹ, Global Green USA, và Save the Children trong các chiến dịch thực hiện trách nhiệm xã hội của DN.

Tùy vào mục tiêu đề ra mà DN cần chọn đúng đối tác phù hợp trong từng lĩnh vực. Hợp đồng hợp tác nên mang đến lợi ích tương xứng cho cả hai bên. 

10. Nhất quán trong kinh doanh

 Đây là yếu tố quan trọng để duy trình sự trung thành của khách hàng với thương hiệu. Nếu bạn mang đến cho khách hàng một trải nghiệm độc đáo bằng dịch vụ của mình trong lần đầu tiên sử dụng, họ sẽ mong đợi được như vậy trong những lần sau.

Starbucks đảm bảo chất lượng của mọi sản phẩm cung ứng đều đồng nhất tại mọi cửa hàng chi nhánh của công ty. 

11. Địa phương hóa sản phẩm
Cửa hàng Starbuck mang phong cách châu Âu ở Amsterdam

Bên cạnh giữ chất lượng đồng nhất, điều quan trọng trong mô hình kinh doanh chuỗi là bạn phải địa phương hóa các sản phẩm của mình cho phù hợp với từng vị trí đặt cửa hiệu kinh doanh. Đối với Starbucks, một ly café sữa ở mọi khu vực bờ biển là như nhau, nhưng tùy mỗi nơi lại có những cải biến cho phù hợp thị hiếu khách hàng khu vực.

Starbucks nhấn mạnh vào hình ảnh một thương hiệu café địa phương hơn là mang tính quốc gia. Điều này hoàn toàn phù hợp với tiêu chí mang đến trải nghiệm thân thuộc cho mỗi người dùng của thương hiệu. 

12. Chọn nhà lãnh đạo phù hợp 

Vào năm 2007, doanh thu của Starbucks bị sụt giảm mạnh. Là người lãnh đạo, Howard Schultz đã nhận ra rằng Công ty đã đi lệch ra khỏi định hướng ban đầu.
"Tối đa hóa lợi nhuận đã trở thành mục tiêu chính trong kinh doanh, trong khi mục tiêu của Starbucks là tối đa hóa trải nghiệm cá nhân cho khách hàng", ông cho biết.

Giải pháp của Schultz trong thời điểm đó là tập hợp 10.000 quản lý của tất cả các cửa hàng về một hội nghị tổ chức suốt 4 ngày tại New Orleans. Trong khoảng thời gian này, Schultz đã xác lập lại mục tiêu, truyền cảm hứng và đặt ra các thách thức cho các nhân viên. Kết quả là 10.000 quản lý này khi trở về đã tạo nên làn sóng thay đổi trong phong cách phục vụ khách hàng. Đến năm 2013, lợi nhuận quay trở lại với Starbuckss.

Điều này cho thấy tầm quan trọng của một nhà lãnh đạo sáng suốt, và chấp nhận thay đổi sẽ kịp thời giải cứu DN khỏi thất bại.

Thứ Năm, 27 tháng 11, 2014

Các nhãn hiệu hàng đầu làm logo ra sao?

Từ màu sắc, kiểu chữ đến kích cỡ chữ…, nếu được lựa chọn và thiết kế tinh tế và thích hợp, logo (biểu tượng) là một công cụ xây dựng hình ảnh đắc lực cho doanh nghiệp. 
Điều đáng nói là thật ra doanh nghiệp không cần phải đầu tư quá nhiều để có một logo tạo được ấn tượng tốt trong tâm trí của người tiêu dùng. Twitter từng bỏ ra chỉ 15 USD để mua logo hiện nay của công ty này. Nike thì chỉ mất có 35 USD cho biểu tượng “lưỡi liềm” nay đã trở nên quá quen thuộc với nhiều người tiêu dùng trên thế giới.


Tuy nhiên, các chuyên gia khuyên doanh nghiệp nên cân nhắc kỹ thông điệp mà mình muốn gửi gắm đến khách hàng thông qua logo. Dưới đây là những dữ liệu khá thú vị về ảnh hưởng của logo trong tiếp thị và câu chuyện làm logo của các nhãn hiệu hàng đầu thế giới.

DNSGCT/MarketingProf


Thứ Tư, 26 tháng 11, 2014

Giữ nguyên 6 ngành nghề cấm đầu tư kinh doanh

Luật Đầu tư (sửa đổi) vừa được Quốc hội thông qua sáng 26/11 với 85,31% tổng số đại biểu tán thành...
 100% đại biểu có mặt tán thành danh mục 6 ngành nghề cấm đầu tư kinh doanh

Đại biểu đề nghị bổ sung, song Ủy ban Thường vụ Quốc hội vẫn đề nghị giữ nguyên 6 ngành nghề cấm đầu tư kinh doanh, tại dự thảo Luật Đầu tư (sửa đổi) vừa được Quốc hội thông qua sáng 26/11, với 85,31% tổng số đại biểu tán thành.

Cụ thể, sáu hoạt động bị cấm đầu tư kinh doanh gồm có: các chất ma túy; các loại hóa chất, khoáng vật; mẫu vật các loại thực vật, động vật hoang dã, mại dâm; mua, bán người, mô, bộ phận cơ thể người; hoạt động kinh doanh liên quan đến sinh sản vô tính trên người.

Trong đó, các hoạt động một, hai, ba đều có phụ lục quy định cụ thể phạm vi bị cấm.

Tất cả 6 ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh này đều đã được quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành nhưng được tổng hợp trong Luật Đầu tư để làm rõ hơn quy định về quyền tự do kinh doanh của công dân, Ủy ban Thường vụ Quốc hội nhấn mạnh.

Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Nguyễn Văn Giàu cho biết, có ý kiến đề nghị bổ sung về nội dung cấm buôn bán, kinh doanh chất phóng xạ.

Ủy ban Thường vụ Quốc hội giải thích, theo quy định của Luật Năng lượng nguyên tử,  một số cơ quan, tổ chức vẫn được xuất, nhập khẩu và vận chuyển vật liệu phóng xạ (trong đó có chất phóng xạ) sau khi được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cấp phép.

Do vậy, nội dung này xin tiếp thu, bổ sung vào danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện.

Đầu tư kinh doanh vũ khí quân dụng, vũ trang, thiết bị kỹ thuật, khí tài, phương tiện chuyên dụng quân sự, công an, quân trang, phù hiệu, cấp hiệu, quân hiệu của quân đội, công an, quân dụng cho lực lượng vũ trang, linh kiện, bộ phận, phụ tùng vật tư và trang thiết bị đặc chủng, công nghệ chuyên dùng để chế tạo chúng cũng được đề nghị bổ sung vào danh mục cấm.

Song, theo giải thích của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì hiện nay việc sản xuất, kinh doanh vũ khí quân dụng và các phương tiện quân sự... vẫn được một số cơ quan, tổ chức, đơn vị thực hiện  trên cơ sở Nhà nước đặt hàng hoặc giao kế hoạch. Do vậy, lĩnh vực này đã được quy định trong danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện.

"Trước mắt, xin tiếp thu, bổ sung vào danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. Sau khi Chính phủ báo cáo Quốc hội về kết quả nghiên cứu và có đề án xử lý cụ thể, Quốc hội sẽ xem xét, quyết định bổ sung ngành nghề cấm đầu tư kinh doanh theo quy định", Chủ nhiệm Giàu báo cáo.

Biểu quyết riêng điều 6 về ngành nghề cấm đầu tư kinh doanh, 429/429 vị đại biểu có mặt đều tán thành.

Giữ nguyên số lượng ngành nghề cấm đầu tư kinh doanh, song ngành nghề kinh doanh có điều kiện đã được thu hẹp từ 272 xuống còn 267, sau khi một số ngành, nghề trùng lắp nhau được gộp lại hoặc bổ sung, báo cáo tiếp thu, chỉnh lý dự án luật nêu rõ.

Chẳng hạn hai ngành kinh doanh bất động sản và kinh doanh dịch vụ bất động sản đã được gộp thành thành ngành kinh doanh bất động sản. Hay gộp kinh doanh dịch vụ thẩm định giá và dịch vụ xác định giá đất thành kinh doanh dịch vụ thẩm định giá…

Với điều 7 về ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, kết quả biểu quyết có 6/427 vị tham gia biểu quyết không tán thành.

Luật Đầu tư sửa đổi có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2015. Luật đã quy định việc bãi bỏ các quy định về ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật ban hành trước thời điểm luật này có hiệu lực, theo Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Theo Vneconomy

Chỉ là doanh nghiệp nhà nước khi Nhà nước nắm 100% vốn

Luật Doanh nghiệp (sửa đổi) vừa được Quốc hội thông qua sáng 26/11...
Không cần ghi ngành, nghề kinh doanh trong giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, được tự chủ hơn về con dấu… Luật Doanh nghiệp (sửa đổi) vừa được Quốc hội thông qua sáng 26/11.

Báo cáo giải trình, tiếp thu chỉnh lý dự án luật, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho biết có ý kiến đề nghị nghiên cứu thêm để phù hợp với các quy định của pháp luật hiện hành về quản lý và sử dụng con dấu cũng như có biện pháp bảo đảm con dấu có giá trị pháp lý và không bị giả mạo.

Theo  Ủy ban Thường vụ Quốc hội, doanh nghiệp có quyền tự chủ quyết định về hình thức, nội dung và việc quản lý, sử dụng con dấu, đồng thời có nghĩa vụ thông báo mẫu dấu với cơ quan đăng ký kinh doanh để đăng tải công khai trên cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.

Khi tham gia các hoạt động kinh doanh, bên đối tác đương nhiên có các biện pháp kiểm tra toàn diện về doanh nghiệp, kể cả tính xác thực của con dấu để hai bên có thể tin tưởng, ký kết, thực hiện giao dịch, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Nguyễn Văn Giàu giải thích.

Liên quan đến hồ sơ đăng ký doanh nghiệp, báo cáo giải trình ghi nhận ý kiến đề nghị bổ sung phiếu lý lịch tư pháp trong hồ sơ này.

Tuy nhiên, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho rằng yêu cầu bổ sung phiếu lý lịch tư pháp vào hồ sơ đăng ký doanh nghiệp với tất cả các trường hợp sẽ làm tăng thêm thời gian thành lập doanh nghiệp tạo ra gánh nặng chi phí tuân thủ rất lớn cho cả cơ quan nhà nước và doanh nghiệp, sẽ có tác động không thuận lợi cho môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam.

Do vậy, phiếu lý lịch tư pháp không phải là tài liệu bắt buộc trong hồ sơ đăng ký thành lập doanh nghiệp. Tuy nhiên, để có căn cứ kiểm soát một số trường hợp không có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp, luật đã bổ sung quy định trong trường hợp cơ quan đăng ký kinh doanh có yêu cầu, người đăng ký thành lập doanh nghiệp phải nộp phiếu lý lịch tư pháp cho cơ quan đăng ký kinh doanh.

Tiếp thu ý kiến của đại biểu, khái niệm doanh nghiệp nhà nước cũng đã được chỉnh sửa. Theo đó, doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, quy định tại dự thảo trước là nắm giữ trên 50% vốn điều lệ.

Quy định này nhằm tạo sự thuận lợi cho quá trình cổ phần hóa của doanh nghiệp nhà nước và tăng hiệu quả kinh tế sau cổ phần hóa, Chủ nhiệm Giàu nêu quan điểm của người đề nghị.

Với nhóm công ty, báo cáo cho biết có đại biểu đề nghị xác định rõ tiêu chí của tập đoàn kinh tế tư nhân để giúp chuẩn hóa công tác quản lý nhà nước và tạo động lực cho các tập đoàn kinh tế tư nhân phát triển.

Ủy ban Thường vụ Quốc hội giải trình, việc các công ty tư nhân liên kết thành nhóm công ty và hoạt động theo mô hình tập đoàn kinh tế là quyền và xu thế phát triển của doanh nghiệp.

Để thể hiện quan điểm này, dự thảo luật đã bổ sung quy định: tập đoàn kinh tế, tổng công ty thuộc các thành phần kinh tế là nhóm công ty có mối quan hệ với nhau thông qua sở hữu cổ phần, phần vốn góp hoặc liên kết khác.

Khi luật này có hiệu lực thi hành (1/7/2015) Luật Doanh nghiệp 2005 và Luật sửa đổi, bổ sung điều 170 của Luật Doanh nghiệp sẽ hết hiệu lực thi hành, trừ một số  trường hợp được quy định ngay tại luật.

Đáng chú ý là từ 1/7/2015 hộ kinh doanh sử dụng thường xuyên từ 10 lao động trở lên phải đăng ký thành lập doanh nghiệp hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp (sửa đổi). Hộ kinh doanh có quy mô nhỏ thực hiện đăng ký kinh doanh và hoạt động theo quy định của Chính phủ.

Theo Vneconomy

Thứ Ba, 25 tháng 11, 2014

8 loại lãng phí doanh nghiệp cần loại bỏ

Loại bỏ lãng phí và cắt giảm chi phí là hai thuật ngữ quá quen thuộc với các nhà quản lý, nhất là trong thời kỳ kinh tế khó khăn như hiện nay. Tuy nhiên, vẫn còn không ít người hiểu sai hoặc nhầm lẫn dẫn đến đồng nhất hai khái niệm này.

Thực ra, việc cắt giảm chi phí có thể phải gánh chịu thêm nhiều chi phí biến tướng, còn loại bỏ lãng phí thì không.

Ví dụ, khi doanh nghiệp cắt giảm chi phí nhân sự (lương, thưởng, chi phí đào tạo và phát triển) thì hậu quả tất yếu sẽ là năng lực và thái độ làm việc của nhân viên giảm sút, gây ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm và dịch vụ.

Vậy nên, trước khi bắt buộc phải thực hiện cắt giảm chi phí, chúng ta hãy tìm cách loại bỏ lãng phí.

Lãng phí là những hoạt động không mang lại giá trị cho khách hàng hoặc khách hàng không mong đợi. Như vậy, loại bỏ lãng phí chính là loại bỏ mọi hoạt động không mang lại giá trị cho khách hàng.

Có nhiều nguyên nhân để lãng phí tồn tại mà chúng ta không hề hay biết.

Ông Zig Zaglar, một diễn giả Mỹ nổi tiếng đã kể một câu chuyện khá thú vị:

“Ngày lễ Giáng sinh, gia đình tụ họp nấu ăn. Khi làm thịt dăm bông (hamburger), vợ dặn chồng là nhớ chặt 2 khúc đầu của cái chân giò heo trước khi bỏ vào lò nướng. Chồng hỏi tại sao, vợ giải thích “vì mẹ em luôn luôn làm vậy”. Chồng quay sang hỏi mẹ, bà mẹ trả lời đó là cách nướng truyền thống của gia đình, làm theo phương thức của bà ngoại. Chồng vẫn tò mò muốn biết lý do, nên yêu cầu vợ nhấc điện thoại hỏi bà ngoại. Câu trả lời: ”Tại hồi trước, ngoại chỉ có cái lò nướng nhỏ, phải chặt hai đầu đi để bỏ vào cho vừa”.

Lãng phí tại doanh nghiệp cũng rất có thể tồn tại lâu đời như thế và mỗi ngày một trầm trọng hơn. Vì thế, chúng ta nên tập thói quen đặt câu hỏi “tại sao?” và “thì sao?”, để lãng phí không có cơ hội bén rễ sâu vào hoạt động của doanh nghiệp.

Các loại lãng phí

Các chuyên gia về quản trị doanh nghiệp đã chỉ ra một số loại lãng phí có thể đang tồn tại trong các doanh nghiệp:

1. Lãng phí do sản xuất dư thừa (Over production)

Hầu hết các doanh nghiệp sản xuất đều thực hiện sản xuất dư 5-7% số lượng đơn hàng để dự phòng hoặc sản xuất trước một số sản phẩm cơ bản để có thể đáp ứng yêu cầu giao hàng nhanh.

Con số trên thường được xem là chỉ số an toàn trong sản xuất. Tuy nhiên, nếu biết cách khống chế hiệu quả, thì đây là một con số không hề nhỏ cho doanh nghiệp.

Chưa kể, khi sản xuất dư thừa, nguồn dư thừa này sẽ thành hàng tồn kho, lại phát sinh một loại lãng phí khác: Lãng phí do tồn trữ.

2. Lãng phí do tồn trữ (Inventory Waste)

Tồn trữ ở đây có thể là hàng thành phẩm, bán thành phẩm trong kho, trên kệ, trên máy…, hoặc đâu đó trong xưởng.

Hàng tồn trữ này hoàn toàn không mang lại giá trị nào cho doanh nghiệp và khách hàng nhưng lại làm doanh nghiệp mất rất nhiều chi phí: Chi phí lưu kho, chi phí do chiếm dụng mặt bằng, chi phí quản lý…; cũng như nhiều vấn đề khác phát sinh như do che khuất tầm nhìn nên có thể sẽ phát sinh các lỗi, khuyết tật sản phẩm không được nhận biết kịp thời, sản phẩm xuống cấp…

Vì vậy, loại bỏ được lãng phí tồn trữ, doanh nghiệp vừa tiết kiệm được chi phí, lại tạo được cho mình thêm nhiều lợi thế cạnh tranh.

3. Lãng phí vận chuyển (Conveyone Waste)

Nhiều xưởng sản xuất hiện nay của chúng ta đang được bố trí theo chức năng. Quá trình sản xuất một sản phẩm phải đi qua nhiều khâu. Việc luân chuyển này không chỉ làm phát sinh lãng phí do lưu trữ mà còn gây lãng phí vận chuyển. Vì vậy, để loại bỏ lãng phí vận chuyển, cách đơn giản nhất có thể áp dụng là thiết kế dây chuyền chữ U và liên tục.

4. Lãng phí do khuyết tật sản phẩm (Defect Waste)

Khuyết tật sản phẩm thì không thể loại bỏ hoàn toàn, nhưng dùng biểu đồ xương cá, chúng ta có thể tìm ra nguyên nhân và giảm dần khuyết tật.

5. Lãng phí quá trình (Processing Waste)

Rất nhiều quy trình làm việc hiện nay không hợp lý hoặc chưa thuận tiện cho người lao động. Điều này không những gây lãng phí lớn mà còn làm hạn chế năng lực của người lao động và tạo cơ hội cho những khuyết tật phát sinh.

6. Lãng phí trong hoạt động (Operation Waste)

Công tác điều hành hoạt động doanh nghiệp hiện nay cũng đang ẩn chứa vô vàn lãng phí, thậm chí là tiêu cực. Nếu các cấp quản lý và lãnh đạo cùng có ý thức về việc loại bỏ lãng phí và doanh nghiệp có giải pháp hỗ trợ phù hợp thì lãng phí này có thể bị loại hoàn toàn.

7. Lãng phí về thời gian vô ích (Idle time)

Những giai đoạn chờ không cần thiết thường gây lãng phí, thậm chí là lãng phí lớn. Vì vậy, xem xét và loại bỏ lãng phí thời gian vô ích là điều cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.

8. Lãng phí nguồn nhân lực

Hơn 90% doanh nghiệp Việt Nam hiện nay đang lãng phí nguồn nhân lực. Lãng phí ấy diễn ra mọi lúc, mọi nơi do nhiều nguyên nhân.

Làm thế nào để loại bỏ lãng phí?

Trước khi loại bỏ lãng phí, chúng ta phải xác định được lãng phí. Biểu mẫu dưới đây có thể giúp dễ dàng nhận dạng lãng phí:
Mô tả lãng phí Có lãng phíKhông có lãng phíĐiểm sốNguyên nhân và đề xuất cải tiến
Điểm số sẽ giúp nhận biết được mức độ nghiêm trọng của lãng phí. Điểm số nên cho từ 0 – 3.
• Điểm 0: không có lãng phí
• Điểm 1: có rất ít lãng phí
• Điểm 2: có lãng phí nghiêm trọng
• Điểm 3: lãng phí đặc biệt nghiêm trọng, có nguy cơ ảnh hưởng đến sự tồn tại & phát triển của doanh nghiệp.

Việc thực hiện dự án loại bỏ lãng phí không phải là quá phức tạp và cũng không mất nhiều công sức. Tuy nhiên, nó cần được các nhà quản lý thấu hiểu và có thái độ tích cực. Trên thực tế, không ai muốn thừa nhận mình đang lãng phí. Vì vậy, để dự án loại bỏ lãng phí thành công, lãnh đạo cần có những bước đào tạo nhận thức và động viên tích cực trong nội bộ, từ ban lãnh đạo, các quản lý cấp trung đến toàn thể người lao động trong doanh nghiệp.
Theo Doanh Nhân Sài Gòn

Thứ Năm, 20 tháng 11, 2014

'Bánh ngọt' đang dần vào tay doanh nghiệp ngoại

Sau Tribeco, 2 thương hiệu nổi tiếng trong ngành thực phẩm bánh kẹo là Bibica và Kinh Đô cũng đang có nguy cơ hoàn toàn thuộc về đối tác ngoại.
 
Mặc dù vẫn là một trong những ngành hấp dẫn, lợi nhuận ổn định, nhưng các thương hiệu thực phẩm lớn trong nước, đặc biệt là mảng bánh kẹo, đồ uống vẫn liên tiếp bán đi mảng kinh doanh cốt lõi của mình, làm dấy lên nhiều sự hoài nghi.

Dấu hỏi lớn nhất được đặt ra lúc này dành cho Công ty cổ phần Kinh Đô (Mã CK: KDC) khi vừa công bố khoản đầu tư của Tập đoàn Mondelēz International với giao dịch được Mondelēz International đề xuất là 80% cổ phần mảng kinh doanh bánh kẹo của Kinh Đô trong thời gian tới, tương đương với 7.846 tỷ đồng (370 triệu USD).

Không dừng lại ở 80%, Tim Cofer, Phó chủ tịch cấp cao của Mondelēz International cho biết thêm, 20% cổ phần còn lại sẽ được thương thảo để sở hữu tiếp, sớm nhất 12 tháng sau khi thương vụ đầu tư hoàn tất.

Mặc dù Kinh Đô cho biết chỉ bán mảng bánh kẹo, tuy nhiên, nguồn thu chính của doanh nghiệp chủ yếu dựa vào "miếng bánh" này. Cho nên, việc bán gần hết cổ phần mảng cốt lõi cho đối tác ngoại chẳng khác nào đơn vị này đã "trao thân gửi phận” cho Mondelēz International toàn quyền quyết định.

Theo nhìn nhận của một giám đốc phân tích đầu tư chứng khoán, sau khi bán 80% mảng bánh kẹo, Kinh Đô chỉ còn lại 20% cổ phần trong BKD (Công ty cổ phần Kinh Đô Bình Dương), 100% cổ phần Kido (kem và các sản phẩm từ sữa), nhưng đây cũng chỉ là một lát cắt nhỏ. Còn ngành kinh doanh mì ăn liền thì còn quá mới. Riêng về dầu ăn, Công ty chưa hề ghi dấu ấn trên thị trường mặc dù đang sở hữu trong tay trên 50% cổ phần Tổng công ty Công nghiệp Dầu thực vật Việt Nam - Vocarimex.
Kinh Đô bán 80% cổ phần cho đối tác ngoại. Ảnh: CT
Lý giải một cách gián tiếp quyết định bán mảng bánh kẹo, ông Trần Kim Thành, Chủ tịch HĐQT Công ty CP Kinh Đô cho biết, dù đang dẫn đầu thị trường trong nước ở ngành hàng bánh kẹo, nhưng họ nhận thấy nhóm này không còn nhiều cơ hội phát triển như những năm đầu. Vì vậy, Kinh Đô đang tích cực tìm kiếm cơ hội đầu tư vào một số ngành thiết yếu mới. Gần đây nhất là nhóm cà phê, mì gói, dầu ăn và họ còn có dự định mua hơn 50% cổ phần của một công ty F&B chưa công bố tên.
Lý giải của ông Thành tương đối phù hợp với khảo sát của Business Monitor International (BMI), kể từ năm 2010, tốc độ tăng trưởng của ngành bánh kẹo Việt Nam liên tục đạt 10%. Năm 2013, doanh thu của ngành này trên 29.000 tỷ đồng. Tuy nhiên, dự báo đến năm 2014, tốc độ tăng trưởng của ngành (bao gồm cả chocolate) cũng chỉ có thể đạt từ 8 đến 10%.

Không chỉ Kinh Đô đang dần chuyển giao cho doanh nghiệp nước ngoài, Bibica cũng đang ngấp nghé nguy cơ về  hẳn tay Lotte.

Mặc dù “mối tình” này của Bibica diễn ra khá lình xình từ năm 2007, khi Lotte trở thành cổ đông lớn và tham gia hoạt động điều hành Bibica với tỷ lệ nắm giữ hơn 30%, rồi sau đó liên tục nâng lên. Theo báo cáo quản trị 2013 của Bibica, Lotte đang sở hữu 6.718 cổ phiếu (tỷ lệ 43,56%) của doanh nghiệp bánh kẹo Việt Nam.

Trong đại hội cổ đông của Bibica 2012, họ liên tục bị Lotte thúc ép và tạo mâu thuẫn. Sau những tranh cãi gay gắt, Bibica nhận ra ý đồ thâu tóm của Lotte thì sự việc đã đi quá tầm kiểm soát. Họ chỉ còn cách nhanh chóng tìm một đối tác trong nước là Công ty cổ phần chứng khoán Sài Gòn (SSI) nhằm giúp thoát kế hoạch thâu tóm của Lotte. Thế nhưng, mối quan hệ này cũng khó lâu bền khi 2 bên xảy ra nhiều mâu thuẫn. Tại đại hội cổ đông dự kiến diễn ra vào tháng 4 năm nay, SSI đã bất ngờ vắng mặt khiến đại hội phải hoãn. 

Theo ông Mai Vũ Thảo, Giám đốc tư vấn đầu tư Công ty chứng khoán Ocean đánh giá, nguy cơ Bibica về tay Lotte là khá cao. Bởi lẽ, SSI chỉ là đơn vị đầu tư tài chính đơn thuần, nếu đạt được mức lợi nhuận kỳ vọng họ cũng chẳng dại gì bỏ lỡ. 

Nằm gọn trong tay đối tác ngoại sớm hơn các đơn vị trên, Tribeco một hãng nước giải khát có tiếng của Việt Nam bây giờ hoàn toàn thuộc quyền sở hữu của Tập đoàn Uni-President (Đài Loan) khi được đối tác này mua lại toàn bộ cổ phần. Kể từ khi mọi hoạt động của Tribeco Sài Gòn chuyển sang cho Tribeco Bình Dương, công ty này cũng gần như chẳng còn mấy dấu ấn trên thị trường.

Ngoài những đơn vị trên, theo ông Thảo cũng sẽ vẫn còn nhiều đơn vị thực phẩm nội đang nằm trong tầm ngắm của doanh nghiệp nước ngoài. Bởi lẽ, xét về thị trường, đây là ngành cạnh tranh khá khắc nghiệt, nhưng đổi lại tỷ suất sinh lời tốt. Cho nên, việc các ông lớn đưa vốn vào thị trường Việt Nam cạnh tranh, thâu tóm, thậm chí đẩy doanh nghiệp Việt sa chân vào lỗ nặng để kiếm cơ hội phát triển thị trường ngày càng diễn ra mạnh hơn. Tuy nhiên, xét về khía cạnh bản thân doanh nghiệp Việt, do thiếu trình độ quản lý nâng cao, cũng như nguồn lực giúp đẩy tăng trưởng, nên họ nhận thấy nguy cơ có thể thua trong 3-5 năm nữa, dẫn đến quyết định bán vào thời điểm này là tốt nhất.

Cũng đồng quan điểm với ông Thảo, chuyên gia kinh tế độc lập Lê Đạt Chí đánh giá thêm, đây là một ngành mang tính phòng thủ, lợi nhuận ổn định. Dẫu vậy, thị trường này lại liên tục biến đổi, các công ty từng "vang bóng một thời" đã vơi dần sức hút nên kịch bản thâu tóm không còn quá xa lạ.
Theo Vnexpress

Bài đăng phổ biến