Hiển thị các bài đăng có nhãn mỹ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn mỹ. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 14 tháng 12, 2014

10 dự báo về nền kinh tế thế giới năm 2015

Nền kinh tế toàn cầu sắp khép lại một năm đầy biến động với sự trỗi dậy của Mỹ, giúp bù đắp lại cho sự tăng trưởng chậm chạp của châu Âu, Nhật Bản và Trung Quốc. 
"Về cơ bản có thể nhìn nhận tích cực rằng, nền kinh tế toàn cầu sẽ được cải thiện trong năm 2015”, Nariman Behravesh, nhà kinh tế trưởng tại công ty phân tích dữ liệu công nghiệp toàn cầu (IHS) nhận xét.

“Trong đó dự kiến tỷ lệ tăng trưởng của kinh tế toàn cầu năm 2015 sẽ đạt mức 3%, tăng hơn 0,3% so với mức dự báo 2,7% của năm nay”, Nariman Behravesh cho biết thêm.

IHS cũng đưa ra 10 dự báo tạo triển vọng cho kinh tế toàn cầu năm 2015:

1. Kinh tế Mỹ sẽ tăng trưởng khoảng 2,5-3%

Nền kinh tế lớn nhất thế giới sẽ tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng, và là trụ cột của nền kinh tế thế giới nhờ các chính sách kích thích nhu cầu nội địa, đặc biệt là chi tiêu tiêu dùng.

Động lực đến từ chi tiêu tiêu dùng đang đóng góp vào 70% tổng sản phẩm trong nước (GDP) của Mỹ - một tín hiệu hết sức khả quan nhờ kết quả của việc giảm tỷ lệ thất nghiệp; cải thiện tài chính cá nhân, hộ gia đình và giá nguyên liệu (xăng, ga) giảm. Do đó, IHS dự báo nền kinh tế Mỹ sẽ tăng trưởng khoảng 2,5-3% trong năm 2015.
10 dự báo về nền kinh tế thế giới năm 2015 (1)

Ảnh: Getty Images.

2. Euro zone sẽ tiếp tục suy thoái

Khu vực đồng euro sẽ tiếp tục phải "chiến đấu" với tình trạng thất nghiệp tăng cao. Tuy nhiên, nhờ giá dầu giảm, nền tài chính khu vực này sẽ bớt sóng gió hơn, gánh nặng nợ công cũng bớt đè nặng, đồng thời, những nỗ lực cải cách tiền tệ sẽ giúp đồng Euro mạnh dần trở lại.

Các chuyên gia từ IHS đưa ra mức dự đoán khá khiêm tốn rằng, nền kinh tế Eurozone sẽ tăng trưởng 1,4% trong năm 2015. Dù vậy, mức này vẫn khá hơn rất nhiều so với mức 0,8% của năm nay.

3. Nhật Bản trỗi dậy sau suy thoái kinh tế

Sau khi trải qua đợt suy thoái kinh tế thứ tư liên tiếp chỉ trong sáu năm trở lại đây, nền kinh tế Nhật Bản được dự báo sẽ vực dậy vào năm 2015, mặc dù tốc độ tăng trưởng có thể chỉ đạt khoảng 1%.

Việc Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BOJ) nới lỏng chính sách tiền tệ, cộng với giá dầu giảm được kỳ vọng sẽ là động lực thúc đẩy nền kinh tế của đất nước mặt trời mọc tăng trưởng trở lại.

4. Tốc độ tăng trưởng của Trung Quốc sẽ tiếp tục chậm lại

Nền kinh tế Trung Quốc đang giảm tốc trong bối cảnh kinh tế toàn cầu chật vật. Những nỗ lực về cải cách chính sách tiền tệ và tài khóa khó có thể ngăn chặn tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế lớn thứ hai thế giới chậm lại.

Theo nhận định của các nhà chuyên môn, mức tăng trưởng GDP cả năm 2014 của Trung Quốc có thể chỉ đạt khoảng 7,5%, cận dưới mục tiêu mà Bắc Kinh đề ra.

Và theo nhận định của IHS, tốc độ tăng trưởng này thậm chí có thể xuống mức 6,5% trong năm 2015. Tuy mức tăng trưởng này không được như kỳ vọng của Chính phủ Trung Quốc, nhưng nó vẫn là “mơ ước” của hầu hết các quốc gia trên thế giới.

5. Các nền kinh tế mới nổi (EMs): Những thái cực đối nghịch

IHS nhận định rằng, hầu hết các nền kinh tế mới nổi sẽ tăng trưởng tốt hơn trong năm 2015, nhờ vào giá dầu rẻ hơn, tính thanh khoản toàn cầu được cải thiện cũng như sự phục hồi của kinh tế Mỹ và châu Âu. Nền kinh tế các nước mới nổi châu Âu, Mỹ Latin, Trung Đông, Bắc Phi, và các nước Nam sa mạc Sahara châu Phi sẽ bứt tốc trong năm 2015.

Ngược lại, nền kinh tế Nga sẽ khó thoát ra khỏi vòng xoáy khủng hoảng, khi vẫn phải chịu ảnh hưởng nặng nề của lệnh trừng phạt, giá dầu giảm và vốn chảy ra ngước ngoài, IHS nhận định.
10 dự báo về nền kinh tế thế giới năm 2015 (2)

Một giàn khoan dầu khí ngoài khơi phía đông của Aberdeen, Scotland. Ảnh: Andy Buchanan/ Reuters.



6. Giá cả hàng hóa tiếp tục giảm trong năm tới

Giá dầu đã giảm khoảng 40% kể từ hồi tháng 6 đến nay, trong bối cảnh nguồn cung dầu toàn cầu gia tăng vượt dự báo, trong khi nhu cầu tiêu thụ lại ảm đạm.

Trung Quốc vẫn là chìa khóa cho những câu chuyện về phía cầu, nhưng với dự báo tốc độ tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc có thể giảm vào năm tới, nó sẽ kéo theo một đợt bão giá. Theo đó, giá cả hàng hóa có thể sẽ trượt trung bình 10% vào năm 2015, IHS nhận định.

7. Giảm phát đe dọa kinh tế thế giới

Nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các nước thuộc khu vực đồng tiền chung Euro đang đối mặt với rủi ro giảm phát, do giá cả hàng hóa giảm cũng như tốc độ tăng trưởng toàn cầu đang chậm lại.

Tại Mỹ, Anh và khu vực đồng Euro, các ngân hàng trung ương đều đưa ra mục tiêu lạm phát 2%, nhưng lạm phát hiện đều dưới mức này. Thậm chí tại Ý, Tây Ban Nha và Hy Lạp, lạm phát đều dưới mức 0%.

Tại Trung Quốc, lạm phát cũng dưới 2%, so với mục tiêu 4% của Chính phủ nước này.

Nga có thể được xem là một trường hợp ngoại lệ, khi mức lạm phát vẫn tăng nhờ kinh nghiệm điều chỉnh giảm tỷ giá hối đoái của nước này.
10 dự báo về nền kinh tế thế giới năm 2015 (3)

Phiên họp của Fed bàn về việc điều chỉnh lãi suất và khả năng thanh khoản diễn ra ngày 11/12/2014. Ảnh: Federal Reserve/Flickr.



8. Fed sẽ là tổ chức tài chính đầu tiên tăng lãi suất

Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), Ngân hàng Trung ương Anh, Ngân hàng Trung ương Canada sẽ bắt đầu lộ trình tăng lãi suất tương ứng vào các tháng 6,8, và 11 của năm 2015, nhằm điều hướng tỷ lệ lạm phát đi đúng mục tiêu, IHS cho biết.

Trong khi đó, Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB), Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BOJ) và Ngân hàng Trung ương Trung Quốc (PBOC) lại đang trên lộ trình cắt giảm lãi suất, hoặc tăng thêm tính thanh khoản thông qua việc mua bán các tài sản và một số phương tiện khác.

9. USD sẽ là tiền tệ giữ “ngôi vương”

Đồng đô la Mỹ sẽ tiếp tục là tiền tệ mạnh nhờ triển vọng tăng trưởng mạnh mẽ và kỳ vọng tăng lãi suất của Fed.

Ngược lại, dự kiến tung thêm gói kích cầu của ECB và BOJ cũng đồng nghĩa với việc làm cho cả đồng Euro và đồng Yen tiếp tục mất giá trong năm 2015. Tỷ giá USD/EUR sẽ giảm xuống mức 1,15-1,20 USD/EUR vào quý III/2015, trong khi tỷ giá đồng Yen so với đồng USD sẽ giao dịch ở mức 120-125 JPY/USD vào năm tới.

10. Những “nút thắt” lâu năm có khả năng được nới lỏng

Sự phục hồi của nền kinh tế toàn cầu đã bị cản trở bởi vô số "lời nguyền" trong vài năm qua, bao gồm cả tỷ lệ nợ công cao kèm theo tỷ lệ nợ của khu vực tư nhân cũng không hề ít. Điều đó đã đặt ra những thách thức không nhỏ cho các chính phủ, doanh nghiệp và các cá nhân, IHS nhận định.

Nhưng những trở ngại đối với tăng trưởng kinh tế nêu trên có khả năng được nới lỏng vào năm 2015 tại một số quốc gia, đặc biệt là Mỹ và Anh. Đó cũng là lý giải hợp lý cho những dự đoán về mức tăng trưởng ổn dịnh tại các quốc gia này.
 Diễn Đàn Đầu Tư

Thứ Năm, 11 tháng 12, 2014

Ai là nhà từ thiện hào phóng nhất thế giới 2014?

Trong danh sách 10 khoản từ thiện lớn nhất của năm, có tới 8 đến từ các đại gia người Mỹ...
Trang CNBC dẫn xếp hạng 10 khoản từ thiện lớn nhất thế giới năm nay do hãng nghiên cứu Wealth-X công bố ngày 10/12 cho biết, khoản tài trợ lớn nhất trong năm chính là khoản 2,1 tỷ USD mà nhà đầu tư huyền thoại Warren Buffett tặng cho quỹ từ thiện Bill and Melinda Gates Foundation của hai vợ chồng tỷ phú Bill Gates.

Số tiền trên được hiến tặng dưới dạng 16,6 triệu cổ phiếu của Berkshire Hathaway do Buffett sáng lập và giữ cương vị Giám đốc điều hành (CEO).

Mới đầu tuần này, Buffett, 84 tuổi, đã vượt qua ông trùm viễn thông người Mexico Carlos Slim trở thành người giàu thứ nhì thế giới nhờ giá cổ phiếu Berkshire tăng lên mức cao nhất mọi thời đại.

Theo xếp hạng tỷ phú của tạp chí Forbes, giá trị tài sản ròng của Buffett hiện ở mức 74,4 tỷ USD, nhiều hơn khoảng 1,5 tỷ USD so với khối tài sản 72,9 tỷ USD của Slim - người đã tụt hạng xuống vị trí thứ ba trong danh sách giàu nhất hành tinh.

Nhà sáng lập kiêm CEO của hãng máy ảnh GoPro Nicholas Woodman đứng ở vị trí thứ hai trong danh sách các nhà từ thiện hào phóng nhất năm 2014 mà Wealth-X đưa ra.

Woodman đã tài trợ 479,5 triệu USD cho quỹ cộng đồng thung lũng Silicon. Đây là quỹ kết nối các nhà tài trợ với các tổ chức phi lợi nhuận với mục tiêu là phát triển giáo dục, nhà ở cho người nghèo và giúp người nhập cư hòa nhập.

Trong danh sách 10 khoản từ thiện lớn nhất của năm, có tới 8 đến từ các đại gia người Mỹ. Hai đại gia ngành bất động sản Hong Kong, anh em Ronnie và Gerald Chan, là hai nhân vật còn lại trong danh sách này.

Anh em nhà Chan đã tài trợ 175 triệu USD mỗi người cho Trường Y tế Cộng đồng thuộc Đại học Harvard, Với mức tài trợ này, anh em nhà Chan xếp ở vị trí thứ ba và thứ tư.

Ngoài khoản tài trợ của hai đại gia Chan, Đại học Harvard năm nay còn nhận được khoản tài trợ 150 triệu USD từ nhà quản lý quỹ đầu cơ Kenneth Griffin, người đứng thứ 5 trong danh sách các nhà từ thiện hào phóng nhất năm.

Một loạt trường đại học của Mỹ khác nhận được những khoản tài trợ hàng trăm triệu USD trong năm nay.

Trong đó, Đại học Y tế và Khoa học Oregon nhận 100 triệu USD từ Gert Boyle, chủ tịch hãng đồ thể thao Columbia Sportswear; Đại học Wisconsin-Madison nhận 100 triệu USD từ doanh nhân người Mỹ John Morgridge; Đại học Notre Dame nhận 75 triệu USD từ nhà đầu tư cổ phần tư nhân John “Jay” Jordan…


Theo Vneconomy

Thứ Tư, 3 tháng 12, 2014

14 đặc điểm của giới tỷ phú thế giới

Theo trang Business Insider, thế giới có 12 triệu người là triệu phú USD, nhưng trong số đó chỉ có 2.325 người đạt tới địa vị tỷ phú. Dựa trên báo cáo Billionaire Census mà hãng nghiên cứu Wealth-X đưa ra mới đây, trang này đã tìm ra 14 đặc điểm của giới tỷ phú toàn cầu:

1. Tính bình quân, mỗi tỷ phú trên thế giới sở hữu khối tài sản ròng trị giá khoảng 3 tỷ USD, tương đương giá trị của công ty ứng dụng tin nhắn hình ảnh Snapchat.

2. Tổng tài sản của giới tỷ toàn cầu năm nay đạt 7,3 nghìn tỷ USD, tăng 12% so với năm ngoái. Con số này lớn hơn giá trị vốn hóa thị trường của tất cả các công ty trong chỉ số chứng khoán Dow Jones gộp lại. Ngoài ra, tổng tài sản của các tỷ phú còn lớn hơn cả GDP của Nhật Bản.

3. Tổng số 2.325 tỷ phú của thế giới đang nắm quyền kiểm soát 4% tài sản trên toàn cầu. Wealth-X cũng nói rằng, 1% dân số giàu nhất thế giới đang kiểm soát 40% tài sản trên toàn cầu.

4. Cứ 3 triệu người trên Trái Đất mới có 1 người là tỷ phú USD.

5. Châu Âu có nhiều tỷ phú hơn bất kỳ khu vực nào khác trên thế giới, với 775 người.

6. Nhưng Mỹ mới là nước có nhiều tỷ phú nhất trong số các quốc gia trên thế giới. Nước này có 571 tỷ phú, trong đó có 57 người mới đạt tới địa vị tỷ phú từ năm ngoái.

7. Có 60% số tỷ phú trên thế giới là những người tự tay gây dựng cơ đồ như Jack Ma hay Larry Ellison. Trong khi đó, 26,9% trở thành tỷ phú nhờ đầu tư tài sản được thừa kế. 13% thành tỷ phú ngay khi thừa kế.

8. Trở thành tỷ phú cũng mất kha khá thời gian. Tuổi trung bình của các tỷ phú trên thế giới là 63 tuổi. 93% số tỷ phú trên thế giới ở độ tuổi trên 45.

9. Các tỷ phú đầu tư nhiều vào bất động sản, với mức đầu tư trung bình vào lĩnh vực này là 160 triệu USD mỗi người. Họ thường có 4 bất động sản, và đây được xem là một đặc điểm của “lối sống tỷ phú”.

10. Các tỷ phú có xu hướng sở hữu “các tài sản đắt giá không phải là bất động sản”. Chẳng hạn, có 30 tỷ phú sở hữu một đội bóng hoặc một giải đua ngựa. Những tài sản khác mà các tỷ phú ưa thích bao gồm du thuyền, máy bay, siêu xe và các tác phẩm nghệ thuật.

11. Đa số tỷ phú thích kết hôn. 65% trong số họ có vợ/chồng.

12. Nhiều tỷ phú từng theo học các trường đại học danh giá nhất của Mỹ, hay còn gọi là nhóm trường Ivy League. Có hơn 700 trường đại học trên thế giới mà các tỷ phú từng theo học, nhưng Ivy League vẫn là nhóm trường sản sinh nhiều tỷ phú nhất. Trong đó, Đại học Pennsylvania có 22 tỷ phú, Đại học Harvard có 22 tỷ phú, và Đại học Yale có 20 tỷ phú.

13. Tuy vậy, vẫn có một con số đáng ngạc nhiên các tỷ phú không có bằng đại học. Có tới 35% tỷ phú của thế giới chưa từng tốt nghiệp đại học.

14. Các tỷ phú có xu hướng làm việc trong ngành tài chính. Khoảng 20% tỷ phú ghi dấu sự nghiệp ở Phố Wall hoặc các thị trường tài chính khác.
Theo Vneconomy 

Thứ Ba, 2 tháng 12, 2014

AmCham: Làm ăn “đúng luật” tại Việt Nam khó thành công

Phòng Thương mại Mỹ đề xuất Việt Nam tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh...
Bản báo cáo của Phòng Thương mại Mỹ (Amcham) do ông Gaurav Gupta, Chủ tịch Amcham trình bày tại Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam (VBF) tổ chức sáng 2/12 tại Hà Nội đã đưa ra một nhận định có thể gây sốc.
Cụ thể, báo cáo có đoạn viết: "Đối với các công ty và nhà đầu tư có tính tuân thủ pháp luật cao, Việt Nam là nơi rất khó để thành công".

Vẫn theo báo cáo, các thành viên AmCham cho rằng họ "thường xuyên bị cản trở bởi sự chậm trễ trong việc đưa ra quyết định đối với các dự án và chính sách quan trọng, chẳng hạn trong thực thi quy định đối với các luật và nghị định quan trọng liên quan đến tiến độ xúc tiến các dự án cơ sở hạ tầng chủ chốt".

Cho nên, báo cáo nhấn mạnh rằng AmCham "hy vọng Chính phủ sẽ tăng cường nỗ lực để xây dựng một môi trường kinh doanh cạnh tranh hơn, nơi mà quyết định được đưa ra nhanh chóng, thủ tục hành chính bớt phức tạp, luật được thực thi công bằng, và các doanh nghiệp có thể cạnh tranh dựa trên chính năng lực của mình trong việc tiếp cận nguồn vốn, mặt bằng và cơ hội".

Phòng Thương mại Mỹ cũng cho rằng bất ổn gây ra bởi sự thiếu minh bạch, tham nhũng tiếp tục là thách thức lớn nhất trong kinh doanh đối với các doanh nghiệp Mỹ tại Việt Nam.

"Chúng tôi khẩn thiết mong muốn Chính phủ ban hành một hệ thống hành pháp chính thức để giảm thiểu tối đa các khoản thanh toán không chính thức. Bước tiến rõ rệt nhất sẽ bao gồm các biện pháp nhằm hạn chế việc sử dụng tiền mặt và đẩy mạnh phương thức thanh toán điện tử", ông Gaurav Gupta nói thêm.

Dù đã có những tín hiệu tích cực, AmCham "thường thấy rằng ý định ban đầu của một số nhà đầu tư nước ngoài tiềm năng không hiện thực hóa được, vì liên tiếp phải đối phó với những thách thức về tham nhũng, hạn chế nguồn nhân lực, và quy trình cấp phép cũng như môi trường pháp lý chưa rõ ràng, còn nhiều hạn chế và phức tạp".

AmCham đề xuất rằng Việt Nam cần có những bước tiến rõ rệt trong việc cải thiện những vấn đề liên tục được nêu lên gần đây về môi trường kinh doanh.

"Các thành viên của chúng tôi mong muốn sẽ được thấy các thay đổi tích cực nhằm khích lệ sự phát triển của doanh nghiệp tư nhân, cho phép và hỗ trợ thay vì cản trở các cơ hội kinh doanh. AmCham tin rằng môi trường kinh doanh có thể được cải thiện tốt nhất bởi những chính sách thúc đẩy tăng năng suất, giảm chi phí cũng như giảm rủi ro trong hoạt động kinh doanh tại Việt Nam", báo cáo viết.

Theo Vneconomy

Singapore đẩy mạnh đầu tư bất động sản nước ngoài

Theo Bloomberg, các nhà kinh doanh bất động sản tại Singapore đang hướng sự quan tâm ra các quốc gia khác khi nhu cầu giao dịch tại Singapore đang bắt đầu chững lại. Chiến lược này đưa các nhà đầu tư Singapore trở thành nhà đầu tư lớn nhất khu vực trong năm nay.

Công ty bất động sản lớn thứ hai thị trường chứng khoán của Singapore, City Developments, hồi tháng 9/2014 cho biết công ty đã đầu tư vào nhiều khu đất tại Tokyo với giá khoảng 279 triệu USD. City Developments đang tìm kiếm các cơ hội tại thị trường Mỹ, Anh, Úc, Trung Quốc và Nhật Bản.
Trong khi đó, công ty lớn thứ ba là Keppel Land, công bố vào tháng 7/2014 rằng công ty đã triển khai các dự án đầu tiên tại Bờ Đông Manhattan, New York. Các dự án được định giá đầu tư vào khoảng 70 triệu USD, do Công ty Macklowe Properties phụ trách phát triển.

Các công ty như City Developments và Keppel Land đã bơm 2,32 tỷ USD đầu tư cho thị trường nước ngoài trong vòng 9 tháng qua, nhiều hơn gấp 3 lần so với cùng kỳ năm trước. Đây cũng là mức đầu tư cao nhất trong vòng 8 năm qua. Thông tin do công ty chuyên nghiên cứu về đầu tư bất động sản thương mại Real Capital Analytics công bố với Bloomberg.

Ho Bee hiện đang đầu tư vào các cao ốc văn phòng tại London và phát triển nhà ở tại Melbourne và Gold Coast (Úc). Công ty này cũng được cho là có nhiều cơ hội để đầu tư tại Sydney và London.
Lượng tiền đầu tư ra nước ngoài tăng lên đã đưa các nhà đầu tư Singapore đứng vào vị trí những nhà đầu tư hàng đầu của thị trường bất động sản châu Á. Tổng cộng, trong 9 tháng qua, các công ty Singapore đầu tư ra nước ngoài 9,8 tỷ USD, vượt qua Trung Quốc với 8,4 tỷ USD và Hong Kong với 7,3 tỷ USD.

Lý do cho sự dịch chuyển này là vì các biện pháp kiềm chế giá bất động sản gần đây của chính phủ Singapore đã khiến giá nhà tại đảo quốc giảm trong 4 quý liên tiếp, khoảng thời gian giảm dài nhất từ năm 2009 đến nay.

Tháng 9/2013, giá bất động sản Singapore đạt đỉnh cao. Lo ngại sự mất kiểm soát và phát sinh bong bóng thị trường bất động sản nên chính phủ Singapore đã thực hiện nhiều biện pháp kiềm hãm sự phát triển của thị trường. Điều này dẫn đến lợi nhuận của các nhà đầu tư trong nước bị thu hẹp đáng kể do giá nhà giảm khoảng 4% tính đến nay.

“Nhiều quốc gia châu Á như Singapore đang áp dụng các biện pháp giảm nhiệt bất động sản, đặc biệt ở phân khúc nhà ở. Vì vậy các nhà đầu tư đang có xu hướng dịch chuyển sang thị trường Châu Âu, nơi được cho là đang có những bước phục hồi mạnh mẽ về tài chính", Terence Tang - Giám đốc điều hành khu vực châu Á của công ty môi giới bất động sản Colliers International, cho biết.

“Tại Singapore, thị trường nhà ở gần như đã chết", Desmond Woon - Giám đốc điều hành công ty phát triển nhà ở hạng sang Ho Bee Land cho biết, "Với các biện pháp của chính phủ trong phân khúc này, nhà đầu tư rất khó để phát triển các quỹ đất cho khu dân cư".

Các biện pháp của chính phủ Singapore bao gồm quy định khung nợ cao nhất cho vay mua nhà là 60% thu nhập của người vay. Thuế bổ sung đối với người nước ngoài khi sở hữu nhà tại Singapore tăng lên 15% vào năm 2013. Tất cả người bán nhà phải trả 16% tổng giá trị nếu bán nhà trong năm đầu tiên sau khi mua.

"Các nhà đầu tư lớn của Trung Quốc và Singapore đang hướng đến thị trường New York, Úc và Anh. Họ sẵn sàng đế chấp nhận mạo hiểm vì họ cần những khoản lợi nhuận cao hơn thị trường trong nước. Và vì họ đang nhìn thấy những dấu hiệu hồi phục tại 3 thị trường này", ông Woon đến từ Ho Bee cho biết.

Theo ông, lợi nhuận phát triển nhà ở tại Singapore vào khoảng 5 đến 10% trong khi đó con số này tại Úc là 10 đến 20%. Giá trị các cao ốc văn phòng tại London có khả năng mang về 4 đến 6% lợi nhuận, trong khi đó tại Singapore chỉ là 4%.

Tháng 10/2014, chính phủ Singapore cho biết giá nhà cần phải giảm hơn nữa. Các chuyên gia dự báo năm tới làn sóng đầu tư ra nước ngoài vẫn sẽ tiếp tục tăng cao do quyết định này.
Doanh Nhân Sài Gòn

Thứ Tư, 26 tháng 11, 2014

Người Trung Quốc đua nhau mua nhà ở Mỹ cho con du học

Nhiều gia đình Trung Quốc cho con tới những thành phố lớn ở Mỹ du học đã lựa chọn mua bất động sản, vừa là một cách đầu tư tài chính, vừa là cách tiết kiệm chi phí thuê nhà.

Những người đang có con du học tại Mỹ hoặc có ý định cho con đi học thường chọn mua nhà rồi cho thuê lại, hoặc cho con ở rồi sau đó bán đi, theo Huanqiu.

Có nơi ở cố định sẽ tránh việc các em phải chuyển nhà nhiều lần. Không những thế, đây còn là một kênh đầu tư ổn định, tránh những thiệt hại kinh tế do lạm phát.
New York, một trong những thành phố đắt đỏ nhất thế giới. Ảnh: Huanqiu
Ông bà Trương mua một căn hộ 3 phòng ngủ, 3 phòng vệ sinh năm 2010 có giá 420.000 USD, bỏ thêm 30.000 USD sửa chữa. Hiện giá thị trường của căn hộ là 600.000 USD, như vậy, hai ông bà lời 150.000 USD.


Con trai ông bà ở một phòng, hai phòng khác cho bạn cùng lớp thuê giá 1.800 USD mỗi phòng một tháng. Sau khi trừ hết chi phí và tiền thuế phải nộp, cuối năm ông bà thu được 13.600 USD tiền thuê phòng, bốn năm là 54.400 USD.

Nếu đi thuê nhà, mỗi tháng con trai ông bà mất khoảng 900 USD, một năm là 10.800 USD, bốn năm là 43.200 USD. Do không phải đi thuê nhà, nên anh tiết kiệm được số tiền trên. Gộp với số tiền lời và tiền cho thuê phòng kiếm được, trong 4 năm, tổng cộng ông bà Trương thu được 247.600 USD. Trừ đi số tiền ban đầu mua nhà và sửa chữa, khoản đầu tư này cho tỷ suất sinh lời là 5.5%.

Khu vực được các gia đình Trung Quốc ưu tiên lựa chọn là gần trường, giao thông thuận lợi, cho thuê dễ dàng. Tuy nhiên cũng không ít gia đình, do không hiểu biết về văn hóa bản địa, cũng như pháp luật và các quy định ở Mỹ, khi mua nhà tại đây đã gặp không ít rắc rối, ví dụ như không biết quy định ai là người trả tiền hoa hồng cho đại lý bất động sản, hoặc khu vực nhà ở không đảm bảo an ninh.
 Theo Dân Trí

Thứ Ba, 25 tháng 11, 2014

Đức vượt Mỹ trở thành đất nước được thế giới yêu thích nhất

Đức ghi điểm nhiều hơn so với Mỹ trên các lĩnh vực "chính quyền trung thực và có năng lực", "môi trường đầu tư" và "bình đẳng xã hội" trở thành đất nước được thế giới yêu thích nhất. 
Sự thù địch hình thành giữa thế kỷ 20 chống lại Đức đã tan biến khi quốc gia này được bầu chọn là đất nước được yêu thích nhất thế giới. Lần đầu tiên trong vòng 6 năm qua, Mỹ đã để mất ngôi đầu về tay người Đức, trong cuộc thăm dò Chỉ số thương hiệu quốc gia Anholt-GfK Roper thường niên.
 Thủ tướng Đức Angela Merkel và người dân Đức có lẽ phải cảm ơn đội tuyển quốc gia, do cuộc thăm dò diễn ra hồi tháng 7 năm nay, chỉ vài ngày sau khi họ giành chiến thắng tại World Cup. 

Người dân thế giới giờ đã có quan điểm tích cực hơn về Đức. Họ đánh giá Đức cao hơn 49 nước phát triển và đang phát triển còn lại trong cuộc thăm dò. "Đức không chỉ được lợi từ khả năng thể thao mà họ thể hiện trên trường quốc tế, tại giải vô địch FIFA World Cup, mà còn từ việc củng cố vị trí lãnh đạo ở châu Âu, thông qua một nền kinh tế mạnh và nền chính trị ổn định," Simon Anholt, một nhà cố vấn chính sách độc lập cho biết. 

Đức đã ghi điểm lớn nhất trong các lĩnh vực "chính quyền trung thực và có năng lực", "môi trường đầu tư" và "bình đẳng xã hội". Kể từ năm 2009, Mỹ thường đứng đầu cuộc điều tra Anholt-GfK Roper. Nhưng năm nay Mỹ thua Đức do thực hiện nhiều cuộc can thiệp quân sự trên toàn cầu. Dù vẫn được xem là số 1 trong một số lĩnh vực như "sáng tạo," "văn hóa đương đại" và "các cơ sở giáo dục," vai trò của Mỹ về hòa bình và an ninh toàn cầu chỉ xếp vị trí 19/50.

"Trong một năm có nhiều cuộc xung đột quốc tế, Mỹ đã mất khá nhiều sự ủng hộ, tại những nơi người ta cảm nhận rõ sự căng thẳng," Xiaoyan Zhao, Phó chủ tịch cao cấp và là Giám đốc chỉ số thương hiệu quốc gia tại GfK cho biết. "Cả người Nga và Ai Cập đều đã hạ bậc Mỹ với mức độ lớn chưa từng thấy, đặc biệt là trong lĩnh vực cam kết bảo vệ hòa bình và an ninh toàn cầu, cũng như năng lực của chính quyền Mỹ," Zhao nói thêm.

Tuy nhiên trên quy mô toàn cầu, bản thân Nga cũng bị dư luận chỉ trích mạnh và bị tụt vài bậc. Trong 10 năm qua, Anholt và GfK đã cùng nhau đo đếm hình ảnh của 50 quốc gia, dựa trên 23 lĩnh vực khác nhau, thuộc về 6 hạng mục xếp hạng gồm Xuất khẩu, Chính quyền, Văn hóa, Du lịch và Di trú/Đầu tư.

Để phục vụ nghiên cứu 2014, các nhà thăm dò đã phỏng vấn 20.125 người ở 20 quốc gia, với ít nhất 1.000 cuộc phỏng vấn trên mỗi quốc gia. Top 10 xếp hạng Anholt-GfK Roper:

1. Đức

2. Mỹ

3. Anh

4. Pháp

5. Canada

6. Nhật Bản

7. Italy

8. Thụy Sĩ

9. Australia

10. Thụy Điển

Bài đăng phổ biến