Hiển thị các bài đăng có nhãn Thế giới. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thế giới. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 5 tháng 12, 2014

Steve Jobs và Winston Churchill từng là những diễn giả rất tồi

“Bí quyết để trở thành một diễn giả xuất sắc của Churchill là chuẩn bị kỹ lưỡng. Không phải ông ấy bẩm sinh đã diễn thuyết hay như vậy”. 
Chiều ngày 28/05/1940, nội các chính phủ Anh lo sợ và hoang mang trước tin Bỉ đầu hàng Hitler, nhiều quốc gia khác bị Đức Quốc xã chiếm hoặc đang trên bờ vực sụp đổ, trong đó có Pháp. Không ít lãnh đạo và người dân nước Anh thúc giục vị Thủ tướng mới, Winston Churchill, hãy đàm phán với Hitler.

Churchill đã họp toàn bộ thành viên nội các và thực hiện một trong những bài phát biểu gây chấn động nhất thế kỷ 20. Ông tuyên bố: “Nếu lịch sử hòn đảo này phải chấm dứt, hãy để nó chấm dứt chỉ khi từng người chúng ta đã gục ngã trên mặt đất trong vũng máu”. Người Anh chọn con đường chiến đấu. Họ đã thay đổi hoàn toàn dòng chảy lịch sử.

Phần đông mọi người đều cho rằng Winston Churchill là một trong những diễn giả có tài hùng biện thiên phú vĩ đại nhất. Tuy nhiên Boris Johnson, Thị trưởng thành phố London đồng thời là tác giả cuốn sách The Churchill Factor, lại không nghĩ vậy. Ông cho rằng Churchill không hẳn bẩm sinh đã có tài diễn thuyết. 

Khi vị Thủ tướng này 29 tuổi, ông từng phát biểu trước Viện Thứ dân với vai trò là người đại diện mới. Ông gần như đông cứng mất hàng phút và chỉ nói được vài câu. Churchill trở về chỗ ngồi trong nỗi thất vọng to lớn và lấy hai tay ôm đầu. Ông thề điều đó sẽ không bao giờ xảy ra lần thứ hai.

Churchill bỏ ra nhiều năm liền để luyện tập các bài diễn thuyết, tập cách nói và tỉ mỉ lựa chọn từng từ ngữ, thay những từ dài bằng cách diễn đạt khác ngắn gọn nhưng có sức lay động hơn. Khi đảm nhận chức vụ Thủ tướng Anh ở tuổi 65, ông đã trở thành một nhà hùng biện bậc thầy, một trong những diễn giả tuyệt vời nhất thế giới.

Boris Johnson nhận định: “Bí quyết để trở thành một diễn giả xuất sắc của Churchill là chuẩn bị kỹ lưỡng. Không phải ông ấy bẩm sinh đã diễn thuyết hay như vậy”.

Chuẩn bị kỹ càng và chăm chỉ luyện tập là thói quen của các diễn giả hàng đầu thế giới, không chỉ trong lĩnh vực chính trị mà còn trong kinh doanh nữa. Steve Jobs, một trong những doanh nhân kiêm diễn giả vĩ đại nhất, không phải mới vào nghề đã diễn thuyết giỏi. Ông cũng có thể bị hồi hộp và lo lắng như bất kỳ ai.

Năm 1984, Steve Jobs diễn thuyết một cách cứng ngắc và cứ ôm ghì lấy bục phát biểu. Ông phải đọc ghi chú trên giấy. Gần một thập kỷ sau, ông đã tự nhiên hơn trên sân khấu, nhưng vẫn chưa là gì so với phong cách cuốn hút của ông khi giới thiệu về iPhone năm 2007. Nhiều người coi đây là một trong những bài thuyết trình hay nhất thuộc lĩnh vực kinh doanh. Steve Jobs cho bạn cảm giác ông diễn thuyết rất dễ dàng vì thực ra ông đã luyện tập chăm chỉ suốt nhiều năm liền.

Lần tới khi thấy một diễn giả nào đó dường như sở hữu tài diễn thuyết thiên phú, hãy nhớ đến Winston Churchill và Steve Jobs. Không có ai vừa sinh ra đã biết cách diễn thuyết. Những diễn giả tài năng nhất trau dồi kỹ năng của mình qua nhiều năm luyện tập. Đó là cách duy nhất khiến việc thuyết trình trước đám đông trở nên dễ như ăn bánh vậy.
>> Bí quyết thành công của Winston Churchill  

Thứ Ba, 2 tháng 12, 2014

Tại sao người Đức làm việc ít mà năng suất cao nhất thế giới?

Mỹ vẫn được xem là nước có nền khoa học kỹ thuật tiên tiến, năng suất lao động cao trên thế giới. Thế nhưng gần đây, ngay cả người Mỹ cũng phải cảm thấy nể phục người Đức khi biết rằng người Đức có kỷ luật lao động tốt và năng suất lao động rất cao.
Khi người Mỹ cũng như thế giới nghĩ về nước Đức, những ký ức về chiến tranh thế giới thứ 2 và chủ nghĩa phát xít Hitler thường ngay lập tức xuất hiện. Thế nhưng, một điều nữa mà thế giới phải công nhận, đó là nước Đức chính là cái nôi của nền công nghiệp châu Âu, là nhà sản xuất hàng đầu các sản phẩm chất lượng cao xuất sang các nước trên thế giới. Chính nước Đức đã cứu khu vực đồng Euro thoát khỏi đổ vỡ vào năm 2012 khi khủng hoảng tài chính nổ ra.
Người lao động Đức cũng được bảo vệ tốt nhất và có thời gian làm việc ít hơn so với người lao động của các nước.  Họ làm việc trung bình 35 giờ mỗi tuần nhưng lại có năng suất lao động cao hơn nhiều so với thế giới. Lý do nằm ở đâu? 

1. Giờ làm việc nghĩa là giờ làm việc 

Một chân lý rất đơn giản, nhưng không phải nền sản xuất nào cũng “thấu” được chân lý này. Trong văn hóa doanh nghiệp của Đức, khi một công nhân làm việc, họ chuyên tâm vào công việc hơn là bất cứ một thứ gì khác. Lướt facebook, tán chuyện với đồng nghiệp và sau đó vẽ lăng nhăng ra giấy khi thấy sếp bước vào phòng đều bị xem là những hành vi không thể chấp nhận đối với người lao động ở Đức.

Đối với các nước công nghiệp khác, thói quen chuyên tâm công việc có thể được rèn giũa qua người quản lý nhưng đối với người Đức, đây được xem như bản tính vốn có. Trong bộ phim tài liệu “Hãy biến tôi thành một người Đức” của BBC, một phụ nữ Đức trẻ đã lý giải cú sốc văn hóa mà cô gặp phải trong một chuyến trao đổi công việc ở Anh: “Tôi đến Anh trong một chuyến trao đổi công tác…Tôi ở trong văn phòng và thấy người ta nói chuyện suốt cả buổi về những thứ rất riêng tư, chẳng hạn như tối nay bạn sẽ làm gì, rồi họ uống café suốt cả buổi”. Người Đức không như vậy và họ cảm thấy ngạc nhiên về những điều đó. 

2. Đánh giá cao việc hướng tới mục tiêu, làm việc trực tiếp 

Văn hóa doanh nghiệp Đức có tính tập trung cao và giữ các mối liên lạc công việc trực tiếp. Các công nhân có thể trực tiếp phản ánh với giám đốc về một sản phẩm, sử dụng ngôn ngữ công việc một cách thẳng thắn mà không phải đề cao những ngôn từ văn hoa lịch sự mất thời gian.

Chẳng hạn, một người Mỹ sẽ nói: “Thật tuyệt vời nếu anh có thể nộp báo cáo cho tôi trước 3 giờ chiều”. Trong khi đó, một người Đức sẽ nói: “Tôi cần báo cáo trước 3 giờ chiều”. 

3. Cuộc sống ngoài công việc 

Chính vì giờ làm việc được tập trung vào công việc nên giờ nghỉ đối với người Đức cũng thực sự là giờ nghỉ. Người Đức thường quan niệm sự tách bạch giữa công việc và cuộc sống riêng tư. Thậm chí chính phủ Đức còn đang xem xét một lệnh cấm những thư điện tử liên quan đến công việc được gửi cho người làm sau 6 giờ chiều, nhằm tránh sự lạm dụng các phương tiện điện tử làm ảnh hưởng đến giờ nghỉ của nhân viên.

Nhờ có năng suất lao động cao, người Đức cũng được hưởng nhiều ngày nghỉ mà vẫn được trả lương, lên tới 25 – 30 ngày/năm. Nới rộng số ngày nghỉ được trả lương nghĩa là các gia đình có thể sắp xếp thời gian tới gần cả tháng ở bên nhau, cùng đi du lịch mà không phải bận tâm nhiều với công việc. Và đây cũng là cách để họ sẽ chú tâm với công việc, nâng cao năng suất lao động hơn sau mỗi kỳ nghỉ.
Theo VietNamNet

15 tỷ phú giàu nhất nước Đức năm 2014

Hầu hết các tỷ phú giàu nhất nước Đức làm nên khối tài sản tỷ đô là nhờ khoản thừa kế kếch sù trong khi chỉ một số là tỷ phú tự thân lập nghiệp. Họ chủ yếu kinh doanh trong ngành sản xuất xe ô tô, bán lẻ, cổ phiếu, bất động sản, bán hàng trực tuyến, phần mềm... 


Đức hiện là nên kinh tế lớn thứ năm thế giới với tổng GDP khoảng  3,2 nghìn tỷ USD tương đương GDP bình quân đầu người  39.028 USD. Đức cũng thường được xem là động lực của kinh tế EU và một trong những nước có đóng góp quan trọng đối với khu vực này. 

Vì vậy, không có gì lạ khi quốc gia thịnh vượng này có nhiều tỷ phú lọt vào danh sách tỷ phú thế giới.Tuy nhiên, theo Reuters Đức lại là một trong những quốc gia có sự chênh lệch giàu nghèo không đồng đều nhất trong khu vực đồng tiền chung Euro. Trên thực tế, thu nhập trung bình của 15 người giàu nhất nước Đức cao gấp 130.675 lần so với thu nhập bình quân đầu người của cả nước.

Hầu hết các tỷ phú có tên trong danh sách này có được khối tài sản tỷ đô là nhờ khoản thừa kế kếch sù và một số là tỷ phú tự thân lập nghiệp. Họ chủ yếu kinh doanh trong ngành sản xuất xe ô tô, bán lẻ, cổ phiếu, bất động sản, bán hàng trực tuyến, phần mềm ...

Các tỷ phú Đức được biết đến như những tỷ phú “kín tiếng” nhất thế giới, tuy nhiên không ít người trong số họ vẫn thường xuyên tham gia các hoạt động từ thiện, đặc biệt là đầu tư vào việc thúc đẩy giáo dục, quảng bá nghệ thuật và bảo vệ môi trường,  giúp đỡ trẻ em và tài trợ các nghiên cứu y khoa… 

15. Ludwig Merckle – Giá trị tài sản 5,1 tỷ USD


Chân dung 15 tỷ phú giàu nhất nước Đức năm 2014 (1)

Khi Adolf Merckle (cha đẻ của Ludwig Merckle) tự tử do hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, Ludwig đã được thừa kế đế chế kinh doanh  Merckle Group và thực hiện những bước cải tổ nó.

Để có thể tái cấu trúc HeidelbergCement, ông đã thực hiện một loạt thay đổi như bán Ratiopharm cho Teva Pharmaceuticals, thay mặt Merckle Group đệ đơn kiện chống lại Porsche và cung cấp vốn cho Phoenix Group. Ông tin rằng những thay đổi này sẽ là nỗ lực đúng đắn để bảo vệ thành quả của cha ông. 

14. Dietmar Hopp – Giá trị tài sản 6,4 tỷ USD


Chân dung 15 tỷ phú giàu nhất nước Đức năm 2014 (2)

Là người đồng sáng lập kiêm Giám đốc điều hành suốt nhiều năm của hãng phần mềm SAP, Dietmar Hopp là một tỷ phú tự thân lập nghiệp.

Năm ngoái nhờ lượng lớn cổ phần  nắm giữ tại SAP, ông đã kiếm được 500 triệu USD.

Ngoài phần mềm, ông còn đầu tư vào một loạt các doanh nghiệp công nghệ sinh học và khoa học đời sống, đặc biệt là AC Immune, công ty đang nghiên cứu loại thuốc chống lại bệnh Alzheimer.

Ngoài cổ phần tại SAP, ông còn sở hữu Domaine de Terre Blanche, là một khu nghỉ dưỡng và sân golf sang trọng nằm ở Provence, Pháp. 

13. Heinz Hermann Thiele – Giá trị tài sản 6,6 tỷ USD


Chân dung 15 tỷ phú giàu nhất nước Đức năm 2014 (3)

Heinz Hermann Thiele khởi nghiệp với vai trò của một nhân viên pháp lý tại Knorr-BREMSE AG, một công ty chuyên sản xuất phanh xe. Khi gia đình Knorr tìm cách bán cổ phần của họ trong công ty, Thieleđã giành quyền kiểm soát với sự giúp đỡ vốn từ Deutsche Bank.

Ngoài ra, ông còn sở hữu 25% cổ phần trong công ty đường sắt Đức Vossloh. Đồng thời, ông cũng được biết đến như một nhà từ thiện đã cung cấp viện trợ cho nhiều nước đang phát triển. 

12. Klaus Tschira – Giá trị tài sản 6,8 tỷ USD


Chân dung 15 tỷ phú giàu nhất nước Đức năm 2014 (4)

Cùng với Heinz Hermann Thiele, Klaus Tschira là người đã sáng lập ra SAP. Trong cuộc đời của mình tỷ phú tự lập này đã tập trung toàn bộ năng lượng của mình vào gã khổng lồ phần mềm SAP cho đến khi nghỉ hưu vào năm 2007 và rút về làm cố vấn.

Ông cũng thành lập Klaus Tschira Foundation dưới hình thức một công ty trách nhiệm hữu hạn, mà hiện nay công ty này là một trong những các tổ chức từ thiện lớn nhất ở Đức với số tiền quỹ khoảng 2,7 tỷ USD. 

11. August Von Finck – Giá trị tài sản 7,9 tỷ USD


Chân dung 15 tỷ phú giàu nhất nước Đức năm 2014 (5)

August Von Finck là một tỷ phú rất ít hiếm khi xuất hiện ở chốn đông người, ông làm nên khối tài sản 7,9 tỷ USD chủ yếu nhờ điều hành các doanh nghiệp bất động sản và công ty công nghiệp được thành lập bởi ông nội ông. Ông đã kết hôn và có bốn đứa con. Là tỷ phú Đức nhưng ông lại đang sống ở Thụy Sĩ và sở hữu 15% của Societe Generale de Surveillance, tổ chức lớn nhất thế giới chuyên về các nghiên cứu, kiểm tra, xác minh, đánh giá và cấp chứng nhận. 

10. Hasso Plattner – Giá trị tài sản 7,9 tỷ USD


Chân dung 15 tỷ phú giàu nhất nước Đức năm 2014 (6)

Là nột trong ba nhà đồng sáng lập của công ty phần mềm SAP, Hasso Plattner cũng đồng thời là người sáng lập ra Viện Hasso Plattner tại Đại học Potsdam, chuyên dạy về công nghệ thông tin. Ngoài ra, ông còn sở hữu Founcourt Estate, một khách sạn sang trọng và khu sân golf tại Western Cape, Nam Phi.

Ông cũng là một trong những tỷ phú đầu tiên của Đức ký vào cam kết "The Giving Pledge" với cam kết cho đi một nửa tài sản để làm từ thiện.


9. Reinhold Wurth – Giá trị tài sản 8,1 tỷ USD


Chân dung 15 tỷ phú giàu nhất nước Đức năm 2014 (7)

Sau khi được thừa kế công ty sản xuất linh kiện phụ trợ từ cha mình, Reinhold Wurth đưa nó trở thành một đế chế kinh doanh toàn cầu mang tên Wurth Group, trong đó có cả một chuỗi khách sạn sang trọng sử dụng hơn 63.000 nhân viên.

Gần đây, Reinhold Wurth bắt đầu chuyển mối quan tâm sang lĩnh vực hàng không và nghệ thuật. Ông sở hữu 5 máy bay tư nhân, một sân bay nhỏ và một bộ sưu tập hơn 16.000 tác phẩm nghệ thuật, trong đó có nhiều tác phẩm của Edvard Munch, Pablo Picasso và Max Beckmann. 

8. Klaus-Michael Kuehne – Giá trị tài sản 10,3 tỷ USD


Chân dung 15 tỷ phú giàu nhất nước Đức năm 2014 (8)

Klaus-Michael Kuehne hiện đang vận hành đế chế kinh doanh vận tải Kuehne & Nagel, được khởi xướng từ thời ông nội ông. Ông cũng là người thành lập trường Đại học vận tải Hamburg, tài trợ cho câu lạc bộ bóng đá Hamburg SV và vừa mới hợp tác để làm các dự án cho thành phố Hamburg và Đại học Hamburg. Các dự án này bao gồm việc chuyển đổi lâu đài Castell Sơn Claret có lịch sử hơn 600 năm thành một khách sạn cũng như vực dậy The Fontenay,  một khách sạn trị giá 175 triệu USD từng thuộc sở hữu của InterContinental  ở Hamburg. 

7. Johanna Quandt – Giá trị tài sản 12,7 tỷ USD


Chân dung 15 tỷ phú giàu nhất nước Đức năm 2014 (9)

Từng là thư ký và cuối cùng là vợ thứ ba của Herbert Quandt, Johanna Quandt hiện nắm trong tay 16% cổ phần của BMW. Bà đã được Chính phủ Đức vinh danh vào năm 2010 cho những nỗ lực thúc đẩy sự phát triển của báo chí và giáo dục tại nước này. 

6. Georg Schaeffler – Giá trị tài sản 13,8 tỷ USD


Chân dung 15 tỷ phú giàu nhất nước Đức năm 2014 (10)

Cùng với mẹ Maria-Elisabeth, Georg Schaeffler, người đứng đầu Tập đoàn Schaeffler (một trong những nhà sản xuất vòng bi lăn lớn nhất thế giới) đã là gia tăng đáng kể khối tài sản của mình bằng một loạt các khoản đầu tư khôn ngoan. Chẳng hạn như mua lại Continental AG khi nó đang bên bờ vực phá sản do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 và tiếp tục cấp vốn để nó hoạt động tiếp. Nhờ vậy, công ty này đã tăng trưởng trở lại và khiến cho cổ phần của họ trong công ty ngày càng gia tăng. Schaeffler Group sở hữu 36% cổ phần của Continental AG tương đương khoảng 16 tỷ USD. 

5. Stefan Quandt – Giá trị tài sản 14,7 tỷ USD


Chân dung 15 tỷ phú giàu nhất nước Đức năm 2014 (11)

Là người thừa kế của BMW, Stefan Quandt , gần đây vừa kiếm được 3 tỷ USD do giá trị của cổ phiếu BMW đã tăng 19%. Bên cạnh BMW, ông cũng có cổ phần tại Delton AG, công ty chuyên sản xuất các sản phẩm tiêu dùng có doanh thu bán hàng khoảng 2 tỷ USD. 

4. Susanne Klatten – Giá trị tài sản 16 tỷ USD


Chân dung 15 tỷ phú giàu nhất nước Đức năm 2014 (12)

Người phụ nữ giàu nhất nước Đức Susanne Klatten , đang sở hữu một lượng lớn cổ phần tại BMW. Khoảng 50% cổ phần của BMW đang được sở hữu bởi Susanne Klatten và các thành viên trong gia đình bà.

Là một nhà kinh tế học, bà còn có cổ phận tại hãng năng lượng gió Nordex AG, hãng hóa chất Altana cũng như công ty sản xuất carbon và than chì Geohumus và SGL. Năm 2014, giá trị tài sản của bà đã tăng 3,1 tỷ USD so với năm trước. 

3. Dieter Schwarz – Giá trị tài sản 16,7 tỷ USD


Chân dung 15 tỷ phú giàu nhất nước Đức năm 2014 (13)

Là một trong những tỷ phú bí ẩn nhất trong danh sách này, Dieter Schwarz kiếm được khối tài sản 16,7 tỷ USD chủ yếu thông qua Schwarz Group được sáng lập bởi cha ông. Tập đoàn này hiện đang sở hữu Kaufland và Lidl, với doanh thu khoảng 91 tỷ đồng. Quyền sở hữu Tập đoàn Schwartz của ông đã được chuyển giao cho Schwarz Foundation và cổ tức được sử dụng để tài trợ cho những nỗ lực từ thiện, trong đó có các dự án giáo dục cho trẻ em. 

2. Michael Otto – Giá trị tài sản 16,9 tỷ USD


Chân dung 15 tỷ phú giàu nhất nước Đức năm 2014 (14)

Không chỉ là chủ sở hữu của Otto Group, công ty bán hàng trực tuyến lớn thứ hai thế giới, Michael Otto còn sở hữu nhiều trang web bất động sản quan trọng ở San Francisco, New York và Washington cũng như chuối cửa hàng bán lẻ Crate và Barrel ở Mỹ, đó là chưa kể nhiều tài sản khác.

Ông và gia đình cũng sở hữu 8.300 căn hộ tại thành phố Toronto, Canada cũng như hàng trăm ha đất tại các khu công nghiệp trong và ngoài thành phố này. ECE Group, hiên là đơn vị quản lý và phát triển các bất động sản cho gia đình Otto. 

1. Theo Albrecht Jr. và gia đình – Giá trị tài sản 17,3 tỷ USD


Chân dung 15 tỷ phú giàu nhất nước Đức năm 2014 (15)

Nếu công gộp tài sản của người cha và người em trai Theo Berthold, Theo Albrect Jr hiện đang là người đại diện cho gia đình giàu nhất nước Đức. Tài sản của gia đình này  được phát triển thông qua Aldi Nord và Trader Joe, chuối siêu thị bán lẻ có hơn 5.300 cửa hàng trên khắp nước Mỹ và và Châu Âu. 

 Diễn Đàn Đầu Tư


Thứ Ba, 25 tháng 11, 2014

Đức vượt Mỹ trở thành đất nước được thế giới yêu thích nhất

Đức ghi điểm nhiều hơn so với Mỹ trên các lĩnh vực "chính quyền trung thực và có năng lực", "môi trường đầu tư" và "bình đẳng xã hội" trở thành đất nước được thế giới yêu thích nhất. 
Sự thù địch hình thành giữa thế kỷ 20 chống lại Đức đã tan biến khi quốc gia này được bầu chọn là đất nước được yêu thích nhất thế giới. Lần đầu tiên trong vòng 6 năm qua, Mỹ đã để mất ngôi đầu về tay người Đức, trong cuộc thăm dò Chỉ số thương hiệu quốc gia Anholt-GfK Roper thường niên.
 Thủ tướng Đức Angela Merkel và người dân Đức có lẽ phải cảm ơn đội tuyển quốc gia, do cuộc thăm dò diễn ra hồi tháng 7 năm nay, chỉ vài ngày sau khi họ giành chiến thắng tại World Cup. 

Người dân thế giới giờ đã có quan điểm tích cực hơn về Đức. Họ đánh giá Đức cao hơn 49 nước phát triển và đang phát triển còn lại trong cuộc thăm dò. "Đức không chỉ được lợi từ khả năng thể thao mà họ thể hiện trên trường quốc tế, tại giải vô địch FIFA World Cup, mà còn từ việc củng cố vị trí lãnh đạo ở châu Âu, thông qua một nền kinh tế mạnh và nền chính trị ổn định," Simon Anholt, một nhà cố vấn chính sách độc lập cho biết. 

Đức đã ghi điểm lớn nhất trong các lĩnh vực "chính quyền trung thực và có năng lực", "môi trường đầu tư" và "bình đẳng xã hội". Kể từ năm 2009, Mỹ thường đứng đầu cuộc điều tra Anholt-GfK Roper. Nhưng năm nay Mỹ thua Đức do thực hiện nhiều cuộc can thiệp quân sự trên toàn cầu. Dù vẫn được xem là số 1 trong một số lĩnh vực như "sáng tạo," "văn hóa đương đại" và "các cơ sở giáo dục," vai trò của Mỹ về hòa bình và an ninh toàn cầu chỉ xếp vị trí 19/50.

"Trong một năm có nhiều cuộc xung đột quốc tế, Mỹ đã mất khá nhiều sự ủng hộ, tại những nơi người ta cảm nhận rõ sự căng thẳng," Xiaoyan Zhao, Phó chủ tịch cao cấp và là Giám đốc chỉ số thương hiệu quốc gia tại GfK cho biết. "Cả người Nga và Ai Cập đều đã hạ bậc Mỹ với mức độ lớn chưa từng thấy, đặc biệt là trong lĩnh vực cam kết bảo vệ hòa bình và an ninh toàn cầu, cũng như năng lực của chính quyền Mỹ," Zhao nói thêm.

Tuy nhiên trên quy mô toàn cầu, bản thân Nga cũng bị dư luận chỉ trích mạnh và bị tụt vài bậc. Trong 10 năm qua, Anholt và GfK đã cùng nhau đo đếm hình ảnh của 50 quốc gia, dựa trên 23 lĩnh vực khác nhau, thuộc về 6 hạng mục xếp hạng gồm Xuất khẩu, Chính quyền, Văn hóa, Du lịch và Di trú/Đầu tư.

Để phục vụ nghiên cứu 2014, các nhà thăm dò đã phỏng vấn 20.125 người ở 20 quốc gia, với ít nhất 1.000 cuộc phỏng vấn trên mỗi quốc gia. Top 10 xếp hạng Anholt-GfK Roper:

1. Đức

2. Mỹ

3. Anh

4. Pháp

5. Canada

6. Nhật Bản

7. Italy

8. Thụy Sĩ

9. Australia

10. Thụy Điển

Chủ Nhật, 29 tháng 5, 2011

16 sự thật gây choáng về Trung Quốc

Sự thật thứ 1: Trung Quốc tiêu thụ khoảng 53% lượng xi măng; 48% lượng quặng sắt và 47% lượng than đá của thế giới.
Quy mô và tốc độ phát triển của kinh tế Trung Quốc hiện nay chưa tùng có tiền lệ trong lịch sử.
Chỉ trong 10 năm, một nền kinh tế nhỏ mới nổi đã chuyển thành một sức mạnh kinh tế ngang hàng với Mỹ.
Dù muốn hay không, phải thừa nhận từ nay Trung Quốc sẽ đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong kinh tế toàn cầu. Hãy hy vọng kinh tế Trung Quốc không chấn động.
  1. Trung Quốc tiêu thụ khoảng 53% lượng xi măng; 48% lượng quặng sắt và 47% lượng than đá của thế giới. Đối với nhiều loại hàng hóa khác, con số tiêu thụ của Trung Quốc cũng cao tương đương như vậy.
  1. Trong thập kỷ qua, kinh tế Trung Quốc tăng trưởng nhanh gấp 7 lần so với kinh tế Mỹ (tốc độ tăng trưởng 316% so với 43%).
  1. GDP bình quân đầu người của Trung Quốc đứng thứ 91 trên thế giới, thấp hơn Bosnia & Herzegovina.
  1. 85% cây thông giả trên thế giới được sản xuất tại Trung Quốc. 80% đồ chơi trên thế giới cũng được làm ra tại đây.
  1. Nếu dành toàn bộ thu nhập/năm để mua nhà, một người Bắc Kinh sẽ mua được 10 mét vuông nhà. Tất nhiên người đó không thể chỉ dành toàn bộ thu nhập cho việc này. Một mét vuông nhà ở tại Bắc Kinh có giá trung bình 26.000 nhân dân tệ tương đương khoảng 3.800USD thế nhưng thu nhập bình quân đầu người đạt khoảng 2.000 nhân dân tệ/tháng.
  1. Trung Quốc có tổng số lợn lớn hơn 43 nước sản xuất thịt lớn nhất thế giới (sau Trung Quốc) cộng lại.
  1. Người tiêu dùng Trung Quốc hút khoảng 50.000 điếu thuốc/giây.
  1. Tàu chạy nhanh nhất Mỹ có tốc độ chưa bằng nửa so với tàu mới chạy giữa Thượng Hải và Bắc Kinh (150mhp và 103 mph).
  1. Sa mạc Gobi của Trung Quốc tương đương diện tích Peru và mỗi năm mở rộng thêm 1.400 dặm vuông do tình trạng thiếu nước, canh tác quá mức. Sa mạc Gobi là sa mạc lớn nhất châu Á. Sa mạc Gobi nằm trên lãnh thổ Trung Quốc và phía nam Mông Cổ. Khu vực sa mạc này giáp dãy núi Altay và các thảo nguyên Mông Cổ về phía bắc, cao nguyên Tây Tạng về phía tây nam, đồng bằng Bắc Trung Quốc về phía đông nam. Đây là sa mạc lớn thứ 4 thế giới về diện tích. Sa mạc này từng là một phần của đế quốc Mông Cổ và cũng là nơi có nhiều thành phố quan trọng dọc theo con đường tơ lụa. Khu vực sa mạc này là một bóng mưa do dãy Hymalaya ngăn các đám mây mang mưa đến Gobi.
  1. Trung Quốc có 64 triệu căn nhà trống, trong đó tính cả các thành phố không có người ở.
  1. Đến năm 2025, Trung Quốc sẽ xây đủ nhà chọc trời để xây dựng được 10 thành phố quy mô tương đương New York.
  1. Bởi số lượng người theo Cơ đốc giáo tại Trung Quốc tăng nhanh, hiện tại Trung Quốc có tới 54 triệu người theo Cơ đốc giáo trong đó 40 triệu người theo đạo Tin lành và 14 triệu người theo Thiên chúa giáo. Italy có tổng dân số khoảng 60 triệu trong đó khoảng 79% theo Cơ đốc giáo tương đương khoảng 47,4 triệu người, thấp hơn 12% so với Trung Quốc.
  1. Tỷ lệ người tin vào thuyết tiến hóa của Darwin tại Trung Quốc nhiều gấp đôi so với Mỹ. Kết quả khảo sát cho thấy khoảng 74% người Trung Quốc tin vào thuyết tiến hóa trong khi đó con số này tại Mêhicô, Achentina và Anh lần lượt là 69; 68% và 68%. Trong khi đó chỉ khoảng 48% người Nga; 42% người Mỹ; 42% người Nam Phi và 25% người Ai Cập tin vào thuyết này.

Khi bạn mua cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Trung Quốc, thực chất bạn đang cấp tiền cho chính phủ Trung Quốc. 8/10 công ty niêm yết lớn nhất trên sàn chứng khoán Trung Quốc thuộc sở hữu của chính phủ Trung Quốc: Petro China; ngân hàng Thương mại và Công nghiệp Trung Quốc; Sinopec; ngân hàng Bank of China, tập đoàn năng lượng China Shenhua Energy Company; tập đoàn bảo hiểm China Life Insurance Company; ngân hàng truyền thông Trung Quốc.
 GDP của Trung Quốc sẽ có thể vượt Mỹ trong chưa đầy 15 năm. Ông Jun Ma, chuyên gia kinh tế trưởng tại Deutsche Bank, nhận xét: “Tăng trưởng của kinh tế Trung Quốc sẽ được hỗ trợ bởi tốc độ tăng trưởng nhanh của nhóm nền kinh tế mới nổi.” Ông dự báo đến năm 2020, GDP Trung Quốc sẽ vượt Mỹ, ông nhấn mạnh dự báo của ông đã được điều chỉnh tăng lên so với trước đó 2 năm. Ông dự báo: “Chỉ trong 10 năm, GDP danh nghĩa của Trung Quốc sẽ có thể vượt qua Mỹ, trong giai đoạn này đồng nhân dân tệ sẽ tăng giá dần dần.”
 Siêu thị lớn nhất thế giới nằm ở Trung Quốc nhưng từ năm 2005 đến nay nó đã trống tới 99%.

Thứ Tư, 25 tháng 5, 2011

Hàng “Made in America” có sống được trong thời toàn cầu hóa?

Có lẽ thật đáng mỉa mai khi du khách đến thủ đô Washington DC của Mỹ và mang về nhà hàng lưu niệm có dòng chữ “Made in China”.
Cứ mỗi năm khoảng 30 triệu du khách đến năm bảo tàng 19 Smithsonian Museums ở Washington DC để tham quan.
Thế nhưng khi mua đồ lưu niệm, họ đã rất ngạc nhiên khi tìm thấy con tem trong cửa hàng bán quà tặng của bảo tàng có dòng chữ: Made in China.
Ông Nick J. Rahall, một hạ nghị sỹ có tiếng nói của Đảng Dân chủ, nói: “Tôi cảm thấy thật lố bịch và ngu xuẩn khi những người Mỹ đến thăm bảo tàng và mang về nhà con tem mang dòng chữ “Made in China”.”
Vào đầu năm nay, ông đã đưa ra dự thảo luật “Buy American at the Smithsonian Act of 2011” tạm dịch “Mua hàng Mỹ tại Smithsonian”, ông khẳng định: “Tôi tin rằng không nên để các địa điểm quan trọng của nước Mỹ tràn ngập hàng Trung Quốc mà lẽ ra nó có thể được sản xuất ngay tại Mỹ.”
Câu chuyện về Smithsonian hết sức tiêu biểu cho tình trạng của ngành sản xuất Mỹ hiện nay. Khi hoạt động sản xuất được chuyển ra nước ngoài ngày một nhiều, càng khó hơn để tìm được sản phẩm được sản xuất tại Mỹ và giá cả các mặt hàng này đắt đỏ hơn.
Các chuyên gia phân tích cho rằng khi công việc sản xuất được chuyển ra nước ngoài, việc làm dành cho người Mỹ cũng mất. Tuy nhiên một số công ty Mỹ đã cam kết chuyển sản xuất về nội địa Mỹ, điều này không khỏi khiến người ta nhớ đến thời kỳ thập niên 1970 khi hàng hóa thịnh hành “Made in US”.
Giám đốc điều hành của Topps, một công ty lớn của Mỹ, mới đây đã quyết định tiếp tục thuê văn phòng tại Manhattan, động thái này dù khiến công ty tốn kém nhiều tiền nhưng vẫn giữ được bản sắc một công ty Mỹ.
Ông Ryan O’Hara nói: “Chúng tôi quyết định rằng duy trì là một công ty Mỹ và đóng trụ sở tại trung tâm của New York mang rất nhiều ý nghĩa.”
Ông Mark Perry, giáo sư kinh tế tại đại học University of Michigan, cho rằng bất chấp áp lực toàn cầu, ngành sản xuất Mỹ sẽ vẫn đứng trong nhóm hàng đầu thế giới, chỉ sau Pháp, tiến xa hơn Anh, Ý và Braxin.
Ở mức tổng sản lượng hàng năm khoảng 2,155 nghìn tỷ USD, ngành sản xuất Mỹ lớn hơn 45% so với Trung Quốc. Dù năng suất tăng cao nhưng số người làm việc trong ngành sản xuất Mỹ giảm hơn 7 triệu tính từ cuối thập niên 1970.
Số lượng việc làm trong ngành sản xuất giảm có thể vì nguyên nhân công nghệ mới và ngành sản xuất được tự động hóa, nhu cầu lao động giản đơn giảm. Việc chuyển sản xuất sang các nước có chi phí lao động thấp cũng khiến số lượng việc làm tại Mỹ giảm.
Tuy nhiên hạ nghị sỹ Nick J. Rahall cho rằng hoạt động tiết kiệm trong ngắn hạn như trên sẽ tác động xấu đến kinh tế Mỹ trong dài hạn: “Cái giá quá đắt chính là việc chúng ta tiếp tục chuyển công ăn việc làm đến Trung Quốc, Ấn Độ và nhiều nơi khác.”
Ông nói thêm rằng người Mỹ cần thấy việc mua hàng “Made in US” chính là giúp cho hàng xóm của họ, giúp cho kinh tế Mỹ phục hồi. Người Mỹ thường muốn mua hàng sản xuất tại Mỹ và tôi tin phần lớn sẽ chấp nhận trả thêm tiền nếu họ biết việc họ làm sẽ mang đến việc làm cho người Mỹ.”
Ông tin nên bắt đầu từ những việc nhỏ như bán hàng lưu niệm sản xuất tại Mỹ ở bảo tàng Smithsonian: “Không ai có thể tranh luận rằng việc yêu cầu bảo tàng Smithsonian bán hàng lưu niệm Mỹ sẽ giúp giảm được thâm hụt ngân sách, thế nhưng nó sẽ phần nào giúp kinh tế của chúng ta phục hồi. Hơn nữa thật nực cười khi người du lịch mang quà lưu niệm mua từ thủ đô của nước Mỹ, nhưng hàng đó được sản xuất tại Trung Quốc.”
Ông Garry Ridge, CEO của WD-40, là người đứng đầu của một trong những công ty sở hữu thương hiệu được ngưỡng mộ nhất của Mỹ. Công ty này được sáng lập năm 1953, chuyên sản xuất chất nhờn và chất bôi trơn cho ngành hàng không.
60 năm sau, người đứng đầu đến từ Úc này khẳng định công ty này không còn thuần Mỹ.
Ông nói: “Chúng tôi là một công ty toàn cầu đã từng có trụ sở tại San DieGo, thế nhưng trước đây chúng tôi sống trong một ngôi nhà, một con phố, một khu ngoại ô, một thành phố trên thế giới. Nay chúng tôi sống trong căn nhà của thế giới.” Ông cũng nhấn mạnh rằng hơn một nửa công việc kinh doanh của công ty hiện ở bên ngoài biên giới Mỹ.
Ông khẳng định dù sản phẩm của công ty ông, tất cả không hoàn toàn được sản xuất tại Mỹ, thế nhưng việc làm tại Mỹ hay ở nước ngoài mà công ty này tạo ra cũng sẽ mang đến tác động tích cực cho kinh tế Mỹ nói chung.
Nhiều giám đốc điều hành khác khẳng định các tập đoàn lớn không nhất thiết phải có trách nhiệm tạo công ăn việc làm cho người Mỹ trong bối cảnh kinh tế khó khăn.
Ngọc Diệp
Theo Diễn đàn doanh nghiệp/CNBC

Thứ Hai, 23 tháng 5, 2011

Glencore chưa lên sàn đã nắm phần thắng

Trong tuần này, Glencore, tập đoàn chuyên kinh doanh các loại khoáng sản (quặng sắt, kẽm, đồng, chì, than, dầu thô...) lớn nhất thế giới có trụ sở chính tại Zug (Thụy Sỹ) sẽ chính thức thực hiện việc phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO) cùng lúc tại 2 sàn GDCK London (ngày 24/5) và Hồng Kông (ngày 25/5).

CEO Glencore Ivan Glasenberg
Đến thời điểm này, dù chưa lên sàn, nhưng giới phân tích nhận định, các cổ đông của Glencore đã nắm chắc phần thắng trong tay.

16,9% cổ phần (tương đương với 1,2 tỷ cổ phiếu) của Glencore sẽ được chào bán ra công chúng tại 2 sàn chứng khoán. 83,1% cổ phần còn lại vẫn nằm trong tay Ban lãnh đạo và nhân viên Glencore.

Glencore được một số cổ đông chiến lược là các quỹ đầu tư vốn nhà nước của Các tiểu vương quốc Ả - rập (UAE) và Singapore đăng ký mua tới 31% số cổ phiếu bán ra, với tổng giá trị là 3,1 tỷ USD.

Phần lớn cổ phần của Glencore sẽ được đưa ra giao dịch tại Sở GDCK London, với giá chào sàn của Glencore là 5,30 bảng Anh/cổ phiếu (8,56 USD/cổ phiếu). Tại Sở GDCK Hồng Kông, số cổ phần được đưa ra chào bán ít hơn nhiều, chỉ là 2,7%, với giá chào sàn là 66,53 dollar Hồng Kông/cổ phiếu (8,56 USD/cổ phiếu).

Với giá này, giá trị vốn hóa thị trường của Glencore ước đạt 36,7 tỷ bảng Anh (59,3 tỷ USD).

Theo đánh giá của giới chuyên môn, dựa vào sự quan tâm của các nhà đầu tư, IPO của Glencore tại Sở GDCK London ước sẽ đạt tới con số hơn 11 tỷ USD, vượt con số kỷ lục 10,6 tỷ USD của IPO của Tập đoàn Dầu khí Rosneft (Nga) thực hiện tại đây vào năm 2006. Như vậy, nhiều khả năng,  IPO của Glencore sẽ là IPO lớn nhất trong lịch sử tồn tại của Sở GDCK London và cũng là IPO lớn nhất thế giới kể từ đầu năm đến nay.

Ông Ivan Glasenberg, 54 tuổi, quốc tịch Nam Phi, Giám đốc điều hành (CEO) Glencore sẽ trở thành tỷ phú USD ngay tức thì do sở hữu 15,8% cổ phần (tương đương 9,6 tỷ USD). Cùng với ông, 485 nhân viên cao cấp khác là cổ đông của Glencorre cũng sẽ vớ bẫm. Trong số này có 5 nhà quản lý cao cấp gặt hái nhiều nhất.

Đó là hai ông Daniel Francisco Mate Badenes, 47 tuổi và Aristotelis Mistakidis, 49 tuổi, đồng Chủ tịch Bộ phận kinh doanh đồng, chì, kẽm của Glencore, mỗi người sở hữu 6% cổ phần, sẽ kiếm được 2,2 tỷ bảng Anh.

Ông Tor Peterson, 46 tuổi, Chủ tịch Bộ phận kinh doanh các mặt hàng than, sở hữu 5,3% cổ phần (tương đương 1,9 tỷ bảng Anh). Alex Beard, 43 tuổi, Chủ tịch Bộ phận dầu thô và các sản phẩm lọc hoá dầu, sở hữu 4,6% cổ phần, quy ra tiền là 1,7 tỷ bảng Anh.

Ông Bulat Utemuratov, một trong những phụ tá gần gũi và trung thành của Tổng thống Kazakhstan Nursultan Nazarbayev sẽ kiếm được 1,2 tỷ bảng Anh nhờ IPO của Glencore. Ông này có thể còn trở thành người giàu nhất Kazakhstan. Trong hàng ngũ các tướng đầu sỏ của Glencore, Steven Kalmin, 40 tuổi, Giám đốc tài chính (CFO) chỉ kiếm được 365 triệu bảng Anh, do sở hữu gần 1% cổ phần.

Đây là những đối tượng được hưởng lợi trực tiếp. Các đối tượng "ăn theo" cũng kiếm được khá bộn từ vụ này.

Cụ thể, 23 ngân hàng, tập đoàn tài chính quốc tế, đứng đầu là 3 đại gia Citigroup, Morgan Stanley đều của Mỹ và Credit Suisse (Thụy Sỹ) được Glencore thuê thực hiện mọi dịch vụ liên quan đến IPO, với mức phí có tổng trị giá 275 triệu USD, mức phí cao nhất cho 1 vụ IPO trên thế giới trong vòng 10 năm trở lại đây.

Theo số liệu mới được tiết lộ về quy mô hoạt động giao dịch của Glencore, Tập đoàn hiện kiểm soát 60% thị trường kẽm, 50% thị trường đồng, 45% chì, 38% nhôm, gần 1/3 than đốt của thế giới cũng như buôn bán tới 3% lượng dầu thô giao dịch hàng ngày.

Theo bản cáo bạch, doanh thu năm 2009 của Glencore là 106,4 tỷ USD; năm 2010 là 145 tỷ USD; lợi nhuận trước thuế năm 2010 là 5,3 tỷ USD.

Glencore có đội ngũ nhân viên gồm 2.000 thương nhân, luật sư... làm việc ở hơn 40 quốc gia và vùng lãnh thổ. Glencore có danh sách các khách hàng sộp vào bậc nhất trên thế giới, gồm các tập đoàn dầu khí hàng đầu thế giới BP (Anh), Total (Pháp), Exxon Mobil, ConocoPhilips, Chevron (đều của Mỹ), Tập đoàn khai thác khoáng sản Vale (Brazil), Rio Tinto (Anh- Australia), Tập đoàn sản xuất thép lớn nhất thế giới ArcelorMittal...

Miriam Hehir, chuyên gia phân tích của RBC Capital Markets (Anh) nhận xét, IPO sẽ báo hiệu sự khởi đầu của một giai đoạn phát triển mới của Glencore.

Năm 1974, Công ty được thành lập tại Thuỵ Sỹ, với tên gọi Marc Rich & Co. (mang tên thương nhân Mỹ Marc Rich- người sáng lập). Sau này ông này phải trốn sang ở hẳn tại Thụy Sỹ để tránh bị truy tố về tội trốn thuế tại Mỹ. Đầu năm 2000, ông Marc Rich mới được Tổng thống Mỹ khi đó là ông Bill Clinton xoá tội. Năm 1994, ông Ivan Glasenberg đã mua lại toàn bộ Công ty từ Marc Rich với giá 600 triệu USD và đổi tên thành Glencore.

Trong vòng 17 năm, ông đã biến Glencore từ mức có giá 600 triệu USD, nay tăng tới gần 60 tỷ USD, tức là gần gấp 100 lần. Ông mới đích thực là nhà buôn siêu đẳng.

Thứ Bảy, 21 tháng 5, 2011

Những điểm chung giữa ExxonMobil và... Microsoft

Những giàn khoan của “đại gia” dầu lửa ExxonMobil có vẻ như chẳng có gì liên quan đến thế giới phần mềm của “gã khổng lồ” công nghệ Microsoft.



 

 Tuy nhiên, tờ Wall Street Journal đã chỉ ra không ít điểm chung, mà hầu hết là những vấn đề đáng lo ngại.



Theo Wall Street Journal, ExxonMobil và Microsoft có ít nhất một điểm chung, đó là vị thế đi xuống trong mắt giới đầu tư chứng khoán. Hệ số giá/thu nhập (P/E) của cổ phiếu Microsoft ở đầu thập niên trước là 25 lần, của cổ phiếu Exxon là 21 lần. Ngày nay, P/E của hai cổ phiếu này chỉ còn hơn 9 lần.



Thậm chí, nếu tính đến sự đi xuống của các cổ phiếu công nghệ và dầu lửa nói chung kể từ thời hoàng kim của các cổ phiếu này, thì giá cổ phiếu của Exxon và Microsoft còn giảm giá nặng nề hơn. Ở thời điểm hiện tại, hai cổ phiếu này được định giá rẻ hơn khoảng 30% nếu so với chỉ số S&P 500.



Nhiều nhà đầu tư hiện lo ngại rằng, những năm tháng tươi đẹp nhất của cả Microsoft và Exxon chỉ còn là dĩ vãng. Điều này được thể hiện rõ nét qua phản ứng đầy hoài nghi của giới đầu tư trước những vụ mua lại lớn gần đây của hai tập đoàn.



Microsoft tuần trước tuyên bố chi 8,5 tỷ USD để sở hữu Skype, là vụ mua lại lớn nhất từ trước tới nay của hãng. Mặc dù nhiều người tin là thương vụ sẽ đem đến cho hãng phần mềm những lợi ích chiến lược, nhưng chẳng mấy ai hoan nghênh mức hệ số P/E lên tới 30 lần, chưa tính đến lãi suất, thuế, trượt giá và khấu hao.



Tương tự, cổ phiếu của Exxon đã rơi vào trạng thái ì ạch kể từ tháng 12/2009, khi hãng thực hiện vụ mua lại lớn chưa từng có của mình với 41 tỷ USD để có hãng năng lượng XTO Energy.



Cả Exxon và Microsoft đều đã phải ra sức nỗ lực để cạnh tranh với những đối thủ mới. “Ông chủ” của Windows giờ không còn đồng nghĩa với tương lai của lĩnh vực công nghệ, thay vào đó là những cái tên trẻ hơn như Google, Facebook và Apple. 



Những sai lầm như sản phẩm máy nghe nhạc Zune càng củng cố thêm ý tưởng rằng dù có mạnh đến đâu, Microsoft cũng chỉ giống như loài khủng long của quá khứ. Phần lớn lợi nhuận của Microsoft đến từ hai sản phẩm độc quyền Windows và Office.



Tuy nhiên, hai sản phẩm này chỉ được coi là “máy in tiền”, thay vì là hiện thân của sự tăng trưởng và sáng tạo. Trong khi đó, ở những công nghệ và sản phẩm mới như điện toán đám mây, điện thoại thông minh, máy tính bảng… Microsoft chỉ là kẻ theo sau.



Tương tự như vậy, dầu lửa giờ là thứ cả thế giới đang dùng, nhưng không còn được xem là lựa chọn duy nhất hoặc tốt nhất cho người tiêu dùng nữa. Nhà kinh tế học Phil Verleger gọi dầu lửa từ lâu là “mặt hàng bất đắc dĩ”, một thứ thuế mà người tiêu dùng phải trả để chạy xe. 



Dầu lửa còn bị xem là một phần nguyên nhân dẫn tới thay đổi khí hậu, chiến tranh và giá xăng cao. Những lựa chọn thay thế như xe chạy điện đang thu hút được sự chú ý của người tiêu dùng.



Thêm vào đó, ngay cả trong một lĩnh vực chính của các “đại gia” dầu lửa là thăm dò dầu khí, những phát hiện lớn trong thập kỷ qua, chẳng hạn như phát hiện các mỏ khí đá phiến ở Mỹ, chủ yếu lại là phát hiện của các đối thủ nhỏ con hơn. 



Vụ mua XTO Energy đánh dấu cú đột phá của Exxon vào mảng thăm dò dầu khí đá phiến, nhưng mức giá cao ngất của thương vụ này, cộng thêm tính kinh tế hạn chế mà các mỏ khí đá phiến đem lại so với các mỏ dầu thông thường đã làm giảm tỷ suất lợi nhuận trên vốn của hãng.



Những điểm chung đáng buồn trên đây phản ánh quan điểm rằng, lĩnh vực hoạt động của cả hai, đối với Exxon là dầu lửa - còn đối với Microsoft là phần mềm lấy máy tính làm trung tâm - đều đã đến lúc xế chiều. Nhưng có vẻ như, không có chuyện Exxon hay Microsoft có nguy cơ đứng bên miệng vực. Thế giới vẫn còn phụ thuộc quá nhiều vào các sản phẩm của họ và họ vẫn đạt tới những con số lợi nhuận khổng lồ.



Đối với các chuyên gia chứng khoán, những con số lợi nhuận ở thời điểm hiện tại của Exxon và Microsoft vẫn chưa phải là tất cả. Họ vẫn đang chờ xem chương trình thăm dò dầu lửa ở Tây Phi của Exxon, cũng như phiên bản mới hệ điều hành máy tính Windows của Microsoft sẽ thành công tới mức nào.

Gốc gác gây bất ngờ của 8 thương hiệu lớn

Nhiều công ty lớn trên thế giới ra đời từ một ý tưởng duy nhất, nhưng cũng có không ít doanh nghiệp có tên tuổi “đi đường vòng”.

Những thương hiệu này hiện đang sở hữu sản phẩm, dịch vụ không hề liên quan đến gốc gác ban đầu của họ.
Hãng tin CNBC đã điểm qua 8 thương hiệu có xuất phát điểm khiến không ít người bất ngờ.

1. Tiffany & Co.

Tiffanay là một cái tên lớn trong lĩnh vực trang sức cao cấp. Tuy nhiên, ban đầu, công ty là một cửa hàng bán văn phòng phẩm, do Charles Lewis Tiffany và Teddy Young thành lập vào 1837. Tuy nhiên, dường như đoán định được tương lai, những người sáng lập Tiffany đã gọi công ty của họ là “một ‘đại cửa hàng’ bán văn phòng phẩm và những hàng hóa thú vị”. Chiếc hộp đựng hàng màu xanh đặc trưng của Tiffany đã được sử dụng ngay từ ngày đầu và cho tới tận ngày nay.

2. Procter & Gamble

 
Procter & Gamble do hai anh em đồng hao William Procter và James Gamble thành lập vào năm 1837. Procter là một người sản xuất nến, còn Gamble là một người làm xà phòng. Bố vợ của hai người nhận thấy họ cạnh tranh nguồn vật liệu đầu vào nên khuyên họ nên hợp tác với nhau. Sau đó, Procter & Gamble được thành lập tại Cincinnati - khu vực vào thời đó là trung tâm đóng hộp các sản phẩm thịt, do đó là nguồn cung dồi dào các loại chất béo cho hoạt động sản xuất nến và xà phòng cho Procter và Gamble.

Cho tớ ngày nay, Procter & Gamble vẫn sản xuất một số loại xà phòng như bột giặt Tide và nước rửa bát Dawn. Ngoài ra, hãng còn có thêm rất nhiều sản phẩm khác như tã giấy Pampers, giấy vệ sinh Bounty hay khoai tây chiên Pringles.

3. Raytheon

Raytheon là một tập đoàn khổng lồ trong lĩnh vực quốc phòng, nhưng ban đầu lại là một công ty sản xuất… tủ lạnh. Hãng được thành lập vào năm 1922 bởi hai người bạn đồng học tại trường kỹ thuật Tufts có tên Laurence K. Marshall và Vannevar Bush cùng một nhà khoa học trẻ Charles G. Smith. Vào thời đó, sau khi Thế chiến thế giới thứ nhất kết thúc, nước Mỹ chứng kiến sự phát triển bùng nổ của các nhà máy điện, đường dây điện thoại và những niềm hy vọng mới.
Raytheon dự định sẽ sản xuất tủ lạnh, nhưng trên thực tế chưa cho “ra lò” được chiếc tủ lạnh nào. Thay vào đó, họ đã làm thay đổi cuộc sống của người Mỹ khi tung ra những chiếc đài radio cắm điện thay vì dùng pin. Bên cạnh đó, Raytheon còn sản xuất ra chiếc lò vi sóng thương mại đầu tiên, máy trợ thính, và hệ thống dẫn đường tên lửa thành công đầu tiên.

4. Nokia

 
Nokia được biết đến với tư cách một trong những nhà sản xuất điện thoại di động hàng đầu thế giới. Tuy nhiên, hãng lại xuất thân từ một nhà máy giấy, được Fredrik Idestam thành lập vào năm 1865. Cho tới tận năm 1960, Nokia mới thành lập một bộ phận trong lĩnh vực điện tử chuyên kinh doanh máy tính.

Vào năm 1962, Nokia chế tạo được chiếc máy phân tích xung động sử dụng cho các nhà máy điện hạt nhân. Cho tới cuối thập niên 1970, hãng này mới bắt đầu sản xuất thiết bị điện thoại. Chiếc điện thoại di động Mobira Talkman được hãng cho ra đời vào năm 1984.

5. DuPont

 
Nổi tiếng với xong nồi chống dính hiệu Teflon, kệ bếp Corian, vải dệt Kevlar… DuPont ban đầu là một công ty sản xuất chất nổ thành lập năm 1802. Về sau, hãng chuyển trọng tâm sang lĩnh vực hóa chất, vật liệu và năng lượng. Ngày nay, DuPont hoạt động trong nhiều lĩnh vực, bao gồm thực phẩm và dinh dưỡng, chăm sóc sức khỏe, hàng may mặc, an ninh, xây dựng, điện tử và giao thông vận tải.

6. Avon

 
Ban đầu, hãng mỹ phẩm Avon là một công ty bán sách tới tận nhà khách hàng. Nhằm khuyến khích những khách hàng là nữ giới, người sáng lập công ty là David H. McConnell tặng họ nước hoa. Giống như bất kỳ một doanh nhân giỏi nào khác, McConnell đã tìm ra cách thức để phát huy sức mạnh và nhảy vào lĩnh vực kinh doanh nước hoa. Trong quá trình làm việc với khách hàng, McConnel nhận thấy nhiều phụ nữ khó khăn về vấn đề tài chính và không ít người trong số họ có khả năng bán hàng tốt. Do vậy, ông đã thuê luôn họ làm công việc bán hàng tận nhà.

7. Coca-Cola

 
Công thức nước giải khát Coca-Cola được dược sỹ John Pemberton ở Atlanta sáng chế vào năm 1886. Pemberton mang chất lỏng có mùi thơm và màu caramel này tới hiệu thuốc Jacobs’ Pharmacy gần đó, nơi chất lỏng được hòa với nước có gas. Người quản lý sách của Pemberton là Frank Robinson gọi hỗn hợp đó là Coca-Cola và viết tên gọi này bằng chữ viết tay của ông. Đó cũng chính là hình ảnh chữ viết Coca-Cola trên chai nước uống này ngày nay. Ban đầu, chỉ có 9 cốc Coca-Cola được bán mỗi ngày.

Còn ngày nay, có hàng triệu lon và chai Coca-Cola được tiêu thụ hàng ngày trên thế giới.

8. Oneida Silverware

 
Có lẽ hãng sản xuất đồ bạc Oneida Silverware mới là công ty có gốc gác “lạ đời” nhất. Công ty này ra đời từ một giáo phái có tên Chủ nghĩa hoàn hảo (Perfectionism) do N . Y. John Humphrey Noyes thành lập ở Oneida vào năm 1848. Theo quy định của giáo phái này, mỗi thành viên của giáo phái đều là vợ/chồng của một người khác phái bất kỳ trong giáo phái đó.

Bởi thế, Noyes và 300 thành viên giáo phái đã sống trong một tòa nhà rộng lớn như một gia đình lớn hạnh phúc. Vào năm 1879, cộng đồng này giải tán và các thành viên gặp nhiều khó khăn khi trở lại với xã hội bình thường. Do đó, họ lại tập hợp lại với nhau, nhưng với tư cách là một công ty cổ phần mà về sau là công ty Oneida - một trong những hãng đồ bạc nổi tiếng nhất thế giới hiện nay.
Nguồn: NDHMoney

Thứ Sáu, 20 tháng 5, 2011

Bin Laden đã chết cách đây 5 năm?

Trùm khủng bố Osama bin Laden đã chết cách đây 5 năm chứ không phải bị đặc nhiệm Mỹ tiêu diệt vào đêm 2/5/2011 vừa qua như thông báo của chính giới Mỹ. Tiết lộ “giật gân” đó là của cựu điệp viên Cơ quan Tình báo Trung ương Mỹ (CIA) Berkan Yashar trong cuộc trả lời phỏng vấn mới đây của kênh Một truyền hình Nga. Yashar khẳng định ông từng đích thân làm quen với Bin Laden và 3 vệ sĩ, những người đã tiễn đưa thủ lĩnh al-Qaeda ngày 26/6/2006.
Trùm khủng bố Osama bin Laden. Ảnh: Internet

Berkan Yashar là người Chechnya sống ở Thổ Nhĩ Kỳ. Ông ta lo sợ bị CIA thủ tiêu vì biết sự thật về cái chết của Bin Laden và nghĩ rằng chỉ bằng việc công bố thông tin này rộng khắp thế giới mới có thể mong bảo toàn tính mạng của bản thân.

Theo Yashar, cuộc làm quen của ông với Bin Laden diễn ra vào tháng 9/1992 tại Chechnya. Yashar đến đó với tư cách là nhân viên của Đài phát thanh Tự do và mang bí danh hoạt động là Abu Bakar mà CIA đặt cho. Cũng khi ấy, ông đã tiếp xúc với nhóm bảo vệ Bin Laden và gặp ba chiến binh người Chechnya. Cựu điệp viên CIA kể: “Đó là Sami, Ayoub và Mahmoud. Họ đã ở với Bin Laden cho đến phút cuối cùng. Tôi cũng nhớ mốc thời gian Bin Laden chết vì hôm đó có ba số 6: Ngày 26/6/2006. Những người Chechnya kể trên, cùng 2 người từ Luân Đôn, 2 người từ Mỹ - tất cả 7 người đã tận mắt thấy ông ta chết”.

Berkan Yashar dẫn ra cả những chi tiết khác như trước khi lìa đời, Bin Laden đã bị bệnh nặng, trông rất gầy. Nói chuyện với các nhà báo Nga, cựu điệp viên CIA cho biết chính 3 chiến binh người Chechnya đã tắm rửa và chôn cất Bin Laden theo di chúc của thủ lĩnh. Theo Yashar, những vệ sĩ người Chechnya từng mai táng “trùm khủng bố” hẳn không ai còn sống sót. Ông cho biết tình báo Mỹ bắt đầu nghe trộm các cuộc điện thoại của ông sau sự kiện lần đầu tiên ông công bố về cái chết của Bin Laden tại một hội nghị vào tháng 11/2008 ở Oasinhtơn. Chính sau đó, 3 vệ sĩ người Chechnya cũng biến mất. Người mà Yashar nhìn thấy cuối cùng là vệ sĩ Sami. Berkan Yashar cho biết một ngày trước khi Oasinhtơn loan tin tiêu diệt Bin Laden, chiến binh người Chechnya này đã bị lực lượng đặc nhiệm Mỹ bắt cóc. Chính Sami đã chỉ cho người Mỹ nơi chôn Bin Laden. Đó là vùng núi trên biên giới Pakixtan - Ápganixtan. Cú điện thoại sau cùng của Sami là từ Pakixtan. Berkan Yashar nói: “Thực ra, chẳng hề có cuộc đột nhập nào vào căn nhà của Bin Laden ở ngoại ô Ixlamabát. Tôi biết rõ các xảo thuật nội bộ của người Mỹ: Nếu đơn giản chỉ tìm thấy mộ, bới xác Bin Laden lên và thông báo thì sẽ chẳng thu được lợi lộc gì. Họ cần phải phô trương rằng công nghệ của đặc nhiệm - tình báo Mỹ là rất tinh vi, kiểm soát được từng bước chân như thế nào, lính biệt động đột nhập ra sao. Còn sau đó sẽ nâng lên, trình bày như là chiến thắng tuyệt vời, và họ nói rằng những người dân Mỹ đóng thuế không vô ích”.

Về những tiết lộ chấn động này, ông Sergey Demidenko - chuyên viên nghiên cứu phương Đông của Viện Phân tích và Đánh giá chiến lược Nga - bình luận: “Tôi hoàn toàn cho rằng Bin Laden đã chết bởi căn nguyên tự nhiên. Ngay từ năm 2007, nhà hoạt động chính trị nổi tiếng của Pakixtan là bà Benazir Bhutto đã nói rằng Bin Laden không còn sống nữa. Vấn đề nên đề cập đến hiện nay không phải là Bin Laden chết như thế nào, mà là cái chết của Bin Laden sẽ mang lại hệ quả chính trị gì đối với thế giới, tình hình địa chính trị tại Trung và Cận Đông”. Theo ông Demidenko, tất cả các cơ quan tình báo trên thế giới đều tiến hành những trò chơi thông tin và thường xuyên dùng chiêu “tung hỏa mù” để đánh lạc hướng dư luận, tiêu biểu là vở diễn được dàn dựng rất kỹ với hoạt cảnh đặc nhiệm Mỹ tiêu diệt “trùm khủng bố Bin Laden”.

Những CEO lương một đôla nổi tiếng trên thế giới

Họ là những con người thành đạt và tin rằng mức lương một đôla thể hiện cam kết của họ trong nỗ lực tạo ra các giá trị mới cho cổ đông.

Và cũng chỉ mới một đôla đó, họ kỳ vọng giá cổ phiếu của công ty sẽ tăng theo nhờ nỗ lực của mình.

Những CEO đã hoặc đang hưởng mức lương tượng trưng chỉ 1 USD, không giống những đồng nghiệp của họ trong danh sách 500 CEO được trả lương cao nhất thế giới của Forbes. Trong danh sách đó, tổng lương thưởng của tất cả các CEO lên tới 4,5 tỷ USD năm 2010.


Còn các CEO lương thấp này thoạt nhìn thì có vẻ hẩm hiu, nhưng con số một đôla này hoàn toàn không tính đến tất cả cổ phiếu thưởng và các ưu đãi khác. Các công ty được dẫn dắt bởi những CEO trong danh sách này cũng chính là các công ty có cổ phiếu hoạt động tốt nhất trong những năm gần đây. Điều này chứng tỏ một khi lợi ích của các giám đốc điều hành gắn chặt với lợi ích của cổ đông, thì đôi bên đều có lợi.


1. Larry Ellison của Oracle - lương một đôla

 
Larry Ellison, CEO Oracle.
 
Nếu lên danh sách các đặc điểm của CEO 1 USD, bạn sẽ thấy có khiêm tốn, tiết kiệm và từ thiện. Ellison chính là người tiêu biểu cho đặc điểm thứ ba: ông đã đồng ý cho đến 95% tài sản của mình với mục đích làm từ thiện. Tuy nhiên, xét về khoản tiết kiệm thì có vẻ không đúng lắm khi ông cũng từng sở hữu du thuyền lớn nhất thế giới, ngôi nhà lớn nhất thế giới và thậm chí là cả dàn loa lớn nhất thế giới. Ellison có khối lượng tài sản khổng lồ trị giá 39,5 tỉ USD và là người giàu thứ 5 trên thế giới.

2. Steve Jobs của Apple - lương một đôla

 
Steve Jobs, CEO Apple.
 
Steve Jobs đã biến Apple trở thành công ty hàng đầu trên thị trường và luôn luôn thay đổi thế giới. Trong số các công ty tại Mỹ, thì Apple chỉ đứng sau ExxonMobil về mức vốn hóa thị trường. Kể từ khi quay trở lại công ty năm 1997, Jobs chỉ nhận mức lương một đôla mỗi năm và tạo ra mức hoàn vốn là 8,333% cho các cổ đông.

3. Larry Page và Eric Schmidt của Google - lương một đôla

 
Larry Page và Eric Schmidt của Google.
 
Cả Larry Page và Eric Schmidt - hai nhà đồng sáng lập ra Google chỉ nhận mức thù lao tượng trưng là 1 USD để điều hành cả cỗ máy tìm kiếm khổng lồ. Trước đây, khi còn là giám đốc sản phẩm của Google, Page đã từng nhận mức thưởng khi đi nghỉ là 1.785 USD năm 2010. Và giờ anh có số tài sản trị giá 19,8 tỉ USD bao gồm số cổ phiếu của Google và các khoản trả khác.

4. Jen Hsun-Huang của NVIDIA - lương một đôla

 
CEO Jen Hsun-Huang của NVIDIA.
 
CEO của NVIDIA Jen-Hsun Huang cũng nhận mức lương một đôlatrong năm 2010. 2009 là một năm đầy khó khăn đối với NVIDIA, nhưng thay vì sa thải nhân viên, Huang và các thành viên HĐQT của NVIDIA lại quyết định chỉ nhận mức lương tượng trưng này. Năm 2009, ông từng nhận được 4 triệu USD gồm lương và thưởng cổ phiếu.

5. Edward Liddy của AIG - lương một đôla

 
CEO Edward Liddy của AIG
 
Giám đốc điều hành của tập đoàn AIG - Edward Liddy – cũng nhận mức lương một đôla cho năm 2010 và 2011. Tuy nhiên, giống như các đồng nghiệp khác trong danh sách này, Liddy vẫn sẽ được nhận các khoản cổ phiếu không công khai và có lẽ số tiền đó sẽ giúp ông chi trả được cho cuộc sống của mình một thời gian dài.

6. Jerry Yang của Yahoo! - lương một USD

 
CEO Jerry Jang của Yahoo!
 
Yang lên thay Terry Semel làm CEO của Yahoo và cũng nhận mức lương một đôlamỗi năm. Năm 1994, cùng với David Filo tại Đại học Stanford, Yang đồng sáng lập ra một chương trình tìm kiếm địa chỉ trên mạng với tên gọi: “ Jerry and David Guide to the World Wide Web ” và sau này phát triển thành Yahoo! Anh chỉ nhận 1 USD, nhưng người kế nhiệm của anh là Carol Bartz thì lại ngược lại, khi chỉ riêng lương cơ bản cho cô đã là hơn 1 triệu USD mỗi năm.

7. Vikram Pandit của Citigroup - lương một USD

 
Vikram Pandit, CEO của Citigroup.
 
CEO người Ấn Độ của tập đoàn tài chính khổng lồ Citigroup đã nhận mức lương một đôla cho năm 2009 và 2010. Vì những hậu quả tiêu cực mà cuộc khủng hoảng tài chính gây ra, Pandit đã tuyên bố trước HĐQT của Citigroup rằng “lương của tôi sẽ chỉ là một đôlamỗi năm cho đến khi chúng ta có lợi nhuận”. Và do vậy, tháng 1/2011, khi Citigroup công bố báo cáo kinh doanh quý thứ tư liên tiếp có lãi, đưa 2010 trở thành năm đầu tiên có lợi nhuận kể từ 2007, ông Pandit đã được tăng lương lên mức 1,75 triệu USD mỗi năm.

Bài đăng phổ biến