Hiển thị các bài đăng có nhãn năng suất lao động. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn năng suất lao động. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 11 tháng 12, 2014

Nguồn nhân lực của Việt Nam chỉ được 3,79 điểm


Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới (WB), chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam chỉ đạt 3,79 điểm trên thang điểm 10, xếp thứ 11 trong 12 nước ở châu Á được tham gia xếp hạng.
Nguồn lao động thiếu kỹ năng làm giảm năng lực cạnh tranh của nền kinh tế - Ảnh minh hoạ: Thuỳ Dung

Đây là thông tin được ông Đặng Xuân Thức – Vụ trưởng Vụ Dạy nghề chính quy, Tổng cục Dạy nghề - Bộ Lao động Thương binh và Xã hội (LĐTB&XH) đưa ra tại buổi hội thảo: “Phát triển nhân lực qua đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu xã hội” diễn ra ngày 11-12 tại Hà Nội.

Ông Thức cho hay, nguồn nhân lực chưa đáp ứng được yêu cầu công việc chính là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm cho năng lực cạnh tranh của Việt Nam liên tục giảm.

Theo báo cáo của WB, năm 2013 năng lực cạnh tranh của Việt Nam xếp thứ 70 trên 148 quốc gia và nền kinh tế tham gia xếp hạng, tụt 5 bậc so với năm 2006. "Nếu chất lượng nguồn nhân lực không được cải thiện thì năng lực cạnh tranh của nền kinh tế trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế sẽ gặp khó khăn lớn" - ông Thức nói.

Theo Tổng cục Dạy nghề, hiện tại, tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề ở nước ta còn thấp, chỉ khoảng 34,9% năm 2013, trong khi các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, “khát" lao động kỹ thuật ngày càng trầm trọng.

Bên cạnh đó, khi Cộng đồng Kinh tế Asean (AEC) được thành lập năm 2015, cũng đặt ra nhiều thách thức cho lao động trong nước. Theo Thứ trưởng Bộ LĐTB&XH Nguyễn Thanh Hòa, chất lượng đào tạo nghề hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động, nhất là lĩnh vực công nghệ cao. Năng lực, trình độ kỹ năng nghề của giáo viên và cán bộ quản lý còn nhiều hạn chế, cơ sở vật chất nhiều nơi còn lạc hậu, giáo trình chậm đổi mới cập nhật.

Theo các đại biểu tham dự hội thảo, đào tạo nghề phải gắn chặt với nhu cầu xã hội và doanh nghiệp thì mới giải quyết được tình trạng lao động vừa thừa vừa thiếu như hiện nay.

Ông Đặng Xuân Hoan, Tổng thứ ký Hội đồng quốc gia về Phát triển nhân lực, cho hay Hội đồng đã đề ra 5 nhóm giải pháp để áp dụng trong đào tạo nghề thời gian tới.

Đầu tiên, các cơ sở đào tạo nghề cần thành lập hội đồng đào tạo và nghiên cứu nhu cầu thị trường về lao động, trong đó có sự tham gia của đại diện doanh nghiệp. Song song với đó, cần có sự tham gia của doanh nghiệp trong việc xây dựng giáo trình và hỗ trợ trực tiếp quá trình đào tạo.

Mặt khác, cần có cơ chế để doanh nghiệp đặt hàng cho cơ sở đào tạo. Căn cứ vào thông tin mà doanh nghiệp cung cấp, cơ sở đào tạo sẽ ký kết với doanh nghiệp để đảm bảo hiệu quả đào tạo. Tuy nhiên, để thực hiện được, cơ sở đào tạo phải có cơ quan chuyên trách xúc tiến quan hệ với doanh nghiệp, và các cơ quan sử dụng lao động.

Giải pháp thứ tư, theo ông Hoan, Chính phủ có chủ trương khuyến khích doanh nghiệp thành lập các cơ sở đào tạo. Hiện nay đã có một số tập đoàn lớn thành lập cơ sở đào tạo riêng cho mình. Học viên tốt nghiệp được làm việc ngay tại doanh nghiệp.

Cuối cùng, cần thành lập trung tâm hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực. Các trung tâm này là cầu nối giữa nhà trường và doanh nghiệp, thực hiện chức năng phân tích đánh giá, phân tích nhu cầu nguồn nhân lực trên địa bàn, cung cấp và quản lý nguồn vốn của Chính phủ cho người học nghề vay…

(TBKTSG Online) Vừa qua, Quốc hội đã thông qua Luật Giáo dục nghề nghiệp, theo đó, doanh nghiệp sẽ được trừ khi tính thu nhập chịu thuế đối với các khoản chi cho hoạt động đào tạo theo quy định của pháp luật về thuế.
                                                                                                                         TBKTSG Online

Thứ Bảy, 6 tháng 12, 2014

Cừu – Đại bàng và công cuộc đi tìm nhân viên hoàn hảo

“Tại sao một người rời khỏi công ty? Không hẳn vì lương thưởng hay chế độ đãi ngộ, mà vì họ không tương thích hay phù hợp với văn hóa ở công ty đó”. 

Đây là thông tin được chia sẻ bởi chuyên gia đào tạo phát triển cá nhân hàng đầu Châu Á – ông Leroy Frank Ratnam - tại sự kiện khởi động chuỗi hội thảo về nghề nhân sự với chủ đề “Đào tạo để giữ chân nhân tài bằng phương pháp NLP” diễn ra chiều 4/12/2014.



NLP là gì?


Phương pháp NLP (Neuro Linguistic Programming) còn được biết đến với tên gọi “Lập trình ngôn ngữ tư duy”, một khái niệm khá mới trong đào tạo và quản trị nhân sự Việt Nam.


“Thực tế triển khai đào tạo ứng dụng NLP tại Việt Nam cho thấy phương pháp này có thể tác động rất sâu đến “phần chìm của tảng băng” trong mỗi con người”, ông Leroy cho biết.


Theo giải thích của ông, phần “tảng băng chìm” ở đây chính là tiềm thức, là năng lực tiềm ẩn chưa được khám phá của nhân viên, hoặc cũng chính là những giới hạn, rào cản mà người lao động tự đặt ra cho chính mình để từ chối làm việc hết mình, từ chối hành động dẫn đến không hoàn thành nhiệm vụ.


Tác động được đến “tảng băng chìm” này sẽ tạo nên chất xúc tác mạnh mẽ thúc đẩy tinh thần cống hiến và đam mê làm việc cho công ty, từ đó, tạo nên nguồn doanh thu và lợi nhuận tốt nhất cho doanh nghiệp trên thị trường.


Bà Đỗ Thanh Tâm – Giám đốc Growth Catalyst Vietnam (GCV), đơn vị tổ chức hội thảo cho hay: 
Khi làm việc, lao động Việt Nam chưa thấy giá trị và niềm tin của họ gắn với giá trị và mong muốn, sứ mệnh và nhiệm vụ của tổ chức. Chính vì vậy, họ không đem hết công sức của mình vào trong công việc. Họ luôn bị phân tán bởi rất nhiều yếu tố”.


“Trong nhân sự chúng tôi rất hiểu để giữ chân nhân tài cần những yếu tố về lương thưởng, những cơ hội phát triển cá nhân cho họ… Tuy nhiên, từ góc nhìn của GCV, sự thay đổi đột biến nằm ở tầng ngầm của mỗi cá nhân. Đấy chính là hiệu suất cá nhân và cách họ nhìn bản thân họ như thế nào. Cái đó sẽ tạo ra động lực để họ thay đổi lớn nhất, sẽ tác động đến phần sâu nhất của con người, thay đổi được ý thức hệ và nâng cao năng suất làm việc của từng người lao động tại Việt Nam”.


Cừu – Đại bàng và công cuộc đi tìm nhân viên hoàn hảo


Chúng ta không tìm một ứng cử viên hoàn hảo – một đối tượng không hề tồn tại, mà phải tạo ra môi trường tốt nhất để mang đến những yếu tố tạo ra một nhân viên hiệu quả nhất” – ông Leroy nói.


Ông Leroy cho rằng chúng ta có thể làm được điều đó bằng cách sử dụng NLP để thay đổi tư duy từ tư duy của con Cừu (những người thiên về cảm xúc và thường có suy nghĩ tiêu cực khi có sự kiện xảy ra) thành tư duy của con Đại bàng (những người biết tự chịu trách nhiệm, có tư duy lãnh đạo và đổi mới).


Có 2 cách để làm việc này: Một là sa thải họ. Với cách này, chúng ta sẽ phải thuê người mới nhưng không có gì đảm bảo chúng ta không thuê phải một người có tư duy con cừu tương tự và việc đó sẽ không bao giờ kết thúc. Hai là, chúng ta tạo ra một văn hóa. Khi mọi người bước vào văn hóa đó, sẽ bị đồng hóa rồi sẽ có tư duy như một con đại bàng” – ông Leroy giải thích.


Khi đã tạo ra văn hóa đúng, khi có người mới đến, chúng ta không phải lo họ có làm được việc hay không mà văn hóa của công ty sẽ dạy họ. Trong trường hợp họ không tương thích với văn hóa công ty, họ sẽ rời đi.


Ông Leroy cho rằng, phương thức tạo ra một nhân viên hiệu quả cũng giống như cách giữ chân nhân tài – đó là văn hóa làm việc.


Tại sao một người rời khỏi công ty? Không hẳn vì lương thưởng hay chế độ đãi ngộ, mà vì họ không tương thích hay phù hợp với văn hóa ở công ty đó”, ông cho hay.


Nếu chúng ta đi vào một văn hóa cực kỳ tích cực thì chúng ta rất mong muốn đạt được một nền văn hóa tương tự. Cách suy nghĩ như vậy sẽ trở thành nguyên tắc hành xử. Trong công ty tôi, cho dù có sự kiện gì xảy ra, họ đều hỏi những câu hỏi: Có chuyện gì xảy ra? Chúng ta học được gì từ cái này? Chúng ta làm gì để xoay chuyển vấn đề này?


Hội thảo về nghề nhân sự với chủ đề “Đào tạo để giữ chân nhân tài bằng phương pháp NLP” do Growth Catalyst Vietnam (GCV) tổ chức chiều ngày 4/12. Liên quan đến hiệu suất lao động thấp của người Việt, bà Đỗ Thanh Tâm, Giám đốc GCV cho hay: “Báo cáo gần đây nhất của Tổ chức Lao động Thế giới (ILO) cho hay hiệu suất lao động của Việt Nam chỉ bằng 1/15 so với Singapore. Với những người trẻ như chúng tôi, đó cũng là một sự tổn thương. Rõ ràng, người Việt Nam rất thông minh, đi thi bất cứ cuộc thi nào cũng đứng đầu, nhưng tại sao hiệu suất lao động của người Việt Nam lại thấp như vậy”.

“Chúng tôi cũng có nghiên cứu trên cơ sở đội ngũ học vụ, những chuyên gia đầu ngành đào tạo tại Singapore và nhận thấy nguyên nhân nằm ở ý thức, cái tầng ngầm của “tảng băng chìm” – đấy là ý thức và tiềm thức của người Việt Nam”.


Theo Trí Thức Trẻ
 
>> Vì sao lao động Việt thi tay nghề đứng đầu ASEAN, nhưng năng suất chung vẫn thấp?

Thứ Sáu, 5 tháng 12, 2014

Tuyệt chiêu "tăng chất xám" nhân viên của Facebook

Trong cuốn sách mới xuất bản có nhan đề “Lean in” của mình, Sheryl Sandberg - nữ giám đốc điều hành đầu tiên của Facebook dường như đã hé lộ bí quyết giúp Mark Zuckerberg – người sáng lập trang mạng xã hội lớn nhất hành tinh tăng hiệu suất lao động của nhân viên: luôn giữ nhiệt độ các phòng làm việc ở 15ºC.

Cuốn sách của bà Sandberg đã vẽ nên một bức tranh sống động và thú vị về cuộc sống chốn văn phòng ở Facebook.

Đó là khu văn phòng có treo đầy rẫy các khẩu hiệu khơi gợi cảm hứng đi kèm với thời gian làm việc phi lý và thực phẩm miễn phí luôn có sẵn 24/7. Tất cả đều tốt hơn những tiêu chuẩn thông thường, có lẽ nhằm để giữ đội ngũ nhân viên không thể rời khỏi bàn làm việc của họ.

Tất cả các chi tiết trên cũng đã được tiết lộ trong một cuộc phỏng vấn mới đây với thời báo Times. Trong bài phỏng vấn của mình, phóng viên Janice Turner đã cố gắng tìm hiểu tại sao các áo khoác của bà Sandberg và người sáng lập Mark Zuckerberg luôn khoác lên thành ghế ngồi của họ.

Thói quen này hóa ra không phải là một hành động tùy tiện, mà là một điều thiết yếu giúp họ chống lại cái lạnh. Lí do là, Zuckerberg thích duy trì nhiệt độ trong các phòng làm việc ở 15ºC.

Hiện người ta vẫn chưa rõ tại sao Zuckerberg lại muốn như vậy. Để nhiệt độ thấp tới mức này có thể là một cách tiết kiệm tiền sưởi nóng hoặc một dấu hiệu cho thấy bản thân anh đang phải vất vả giữ mát cho mình.

Mặc dù vậy, đây nhiều khả năng nhất là một nỗ lực của ông chủ Facebook nhằm tối đa hóa năng suất lao động, giữ các nhân viên của mình luôn ở trạng thái tỉnh táo - một chiến thuật đôi khi được các bậc phụ huynh tham vọng sử dụng để nuôi dạy con thành thần đồng.

Tuy nhiên, đây là một ý tưởng tuyệt vời hay quan điểm sai lầm? Các bằng chứng thiên về vế thứ hai.
Khu văn phòng của Facebook khá lạnh. Tại Anh, Viện Kỹ sư xây dựng đề xuất nên để nhiệt độ văn phòng ở 20ºC. Và theo nghiên cứu, mức này vẫn thấp hơn ngưỡng tối ưu cho năng suất lao động.

Năm 2006, một nghiên cứu của trường Đại học Công nghệ Helsinki phát hiện, hiệu suất lao động đạt đỉnh trong một văn phòng được làm nóng lên khoảng 22ºC.

Trong khi đó, một nghiên cứu kéo dài 1 tháng của Đại học Cornell (Mỹ) tại New York vào năm 2004 đã đưa ra mức nhiệt độ lý tưởng thậm chí cao hơn, lên tới 25ºC. Các nhà nghiên cứu thuộc ĐH Cornell phát hiện, khi văn phòng được sưởi nóng đến mức nhiệt độ đó, các nhân viên gõ văn bản cả 100% thời gian và mắc tỉ lệ lỗi là 10%, nhưng khi ở nhiệt độ 20ºC, họ chỉ đánh máy trong 54% thời gian và gây ra tỷ lệ lỗi là 25%.

Cao hơn mức nhiệt độ 25ºC, các lợi ích dường như giảm xuống. Theo nghiên cứu của ĐH Helsinki, khi nhiệt độ tăng tới hơn 31ºC, chúng ta thậm chí còn bị giảm năng suất lao động xuống thấp hơn mức nhiệt độ lạnh 15ºC.

Thực tế là, nóng hoặc lạnh bất thường đều gây mất tập trung, buộc chúng ta phải sử dụng thêm năng lượng cho việc điều tiết nhiệt độ cơ thể. Nó cũng có thể làm cho chúng ta trở nên dễ nổi cáu. Một cuộc khảo sát năm 2009 đối với các nhân viên Mỹ cho thấy, 10% trong số họ đã xung đột với đồng nghiệp vì nhiệt độ văn phòng.

Tóm lại, có vẻ như ông chủ Facebook Zuckerberg nên cho tăng nhiệt độ tất cả các phòng làm việc ở công ty mình.
VietNamNet

Thứ Ba, 2 tháng 12, 2014

Tại sao người Đức làm việc ít mà năng suất cao nhất thế giới?

Mỹ vẫn được xem là nước có nền khoa học kỹ thuật tiên tiến, năng suất lao động cao trên thế giới. Thế nhưng gần đây, ngay cả người Mỹ cũng phải cảm thấy nể phục người Đức khi biết rằng người Đức có kỷ luật lao động tốt và năng suất lao động rất cao.
Khi người Mỹ cũng như thế giới nghĩ về nước Đức, những ký ức về chiến tranh thế giới thứ 2 và chủ nghĩa phát xít Hitler thường ngay lập tức xuất hiện. Thế nhưng, một điều nữa mà thế giới phải công nhận, đó là nước Đức chính là cái nôi của nền công nghiệp châu Âu, là nhà sản xuất hàng đầu các sản phẩm chất lượng cao xuất sang các nước trên thế giới. Chính nước Đức đã cứu khu vực đồng Euro thoát khỏi đổ vỡ vào năm 2012 khi khủng hoảng tài chính nổ ra.
Người lao động Đức cũng được bảo vệ tốt nhất và có thời gian làm việc ít hơn so với người lao động của các nước.  Họ làm việc trung bình 35 giờ mỗi tuần nhưng lại có năng suất lao động cao hơn nhiều so với thế giới. Lý do nằm ở đâu? 

1. Giờ làm việc nghĩa là giờ làm việc 

Một chân lý rất đơn giản, nhưng không phải nền sản xuất nào cũng “thấu” được chân lý này. Trong văn hóa doanh nghiệp của Đức, khi một công nhân làm việc, họ chuyên tâm vào công việc hơn là bất cứ một thứ gì khác. Lướt facebook, tán chuyện với đồng nghiệp và sau đó vẽ lăng nhăng ra giấy khi thấy sếp bước vào phòng đều bị xem là những hành vi không thể chấp nhận đối với người lao động ở Đức.

Đối với các nước công nghiệp khác, thói quen chuyên tâm công việc có thể được rèn giũa qua người quản lý nhưng đối với người Đức, đây được xem như bản tính vốn có. Trong bộ phim tài liệu “Hãy biến tôi thành một người Đức” của BBC, một phụ nữ Đức trẻ đã lý giải cú sốc văn hóa mà cô gặp phải trong một chuyến trao đổi công việc ở Anh: “Tôi đến Anh trong một chuyến trao đổi công tác…Tôi ở trong văn phòng và thấy người ta nói chuyện suốt cả buổi về những thứ rất riêng tư, chẳng hạn như tối nay bạn sẽ làm gì, rồi họ uống café suốt cả buổi”. Người Đức không như vậy và họ cảm thấy ngạc nhiên về những điều đó. 

2. Đánh giá cao việc hướng tới mục tiêu, làm việc trực tiếp 

Văn hóa doanh nghiệp Đức có tính tập trung cao và giữ các mối liên lạc công việc trực tiếp. Các công nhân có thể trực tiếp phản ánh với giám đốc về một sản phẩm, sử dụng ngôn ngữ công việc một cách thẳng thắn mà không phải đề cao những ngôn từ văn hoa lịch sự mất thời gian.

Chẳng hạn, một người Mỹ sẽ nói: “Thật tuyệt vời nếu anh có thể nộp báo cáo cho tôi trước 3 giờ chiều”. Trong khi đó, một người Đức sẽ nói: “Tôi cần báo cáo trước 3 giờ chiều”. 

3. Cuộc sống ngoài công việc 

Chính vì giờ làm việc được tập trung vào công việc nên giờ nghỉ đối với người Đức cũng thực sự là giờ nghỉ. Người Đức thường quan niệm sự tách bạch giữa công việc và cuộc sống riêng tư. Thậm chí chính phủ Đức còn đang xem xét một lệnh cấm những thư điện tử liên quan đến công việc được gửi cho người làm sau 6 giờ chiều, nhằm tránh sự lạm dụng các phương tiện điện tử làm ảnh hưởng đến giờ nghỉ của nhân viên.

Nhờ có năng suất lao động cao, người Đức cũng được hưởng nhiều ngày nghỉ mà vẫn được trả lương, lên tới 25 – 30 ngày/năm. Nới rộng số ngày nghỉ được trả lương nghĩa là các gia đình có thể sắp xếp thời gian tới gần cả tháng ở bên nhau, cùng đi du lịch mà không phải bận tâm nhiều với công việc. Và đây cũng là cách để họ sẽ chú tâm với công việc, nâng cao năng suất lao động hơn sau mỗi kỳ nghỉ.
Theo VietNamNet

Thứ Năm, 20 tháng 11, 2014

Vì sao lao động Việt thi tay nghề đứng đầu ASEAN, nhưng năng suất chung vẫn thấp?

Câu chuyện lao động Việt Nam đứng chót Châu Á về năng suất nhưng lại đứng nhất ASEAN về tay nghề ASEAN khiến nhiều người băn khoăn về hiện trạng dạy nghề ở Việt Nam. Nhưng trách người thầy thế nào khi trong số 53,2 triệu lao động Việt Nam, chỉ có 49% người chịu học nghề. 
Tại Hội thi Tay nghề ASEAN lần thứ 10 do Việt Nam đăng cai, Việt Nam nhất toàn đoàn, với 15 huy chương vàng, bỏ xa nước đứng thứ nhì là Malaysia với 9 huy chương vàng, đứng thứ ba là Indonesia, tiếp theo là Singapore, Thái Lan...


Đây quả thực là niềm tự hào cho lao động Việt Nam, và niềm tự hào náy sẽ trọn vẹn hơn nếu trước đó, Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) không công bố năng suất lao động của người Việt Nam rơi vào mức thấp nhất Châu Á - Thái Bình Dương, kém người Singapore 15 lần, kém người Malaysia 5 lần và chỉ bằng 2/5 người Thái Lan.


Câu chuyện dạy nghề một lần nữa được đặt ra. Nhưng có lẽ, thay vì đổ lỗi cho người thầy, cho chất lượng dạy nghề thì hãy nhìn nhận vệc dạy nghề ở Việt Nam một cách khách quan hơn.


230 chương trình khung do doanh nghiệp phân tích


Theo PGS.TS Dương Đức Lân, Tổng Cục trưởng Tổng cục Dạy nghề, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, trước năm 2000, chúng ta có gì dạy nấy. Nhưng sau năm 2000, đến nay chúng ta đã ban hành được 230 chương trình khung bao gồm các kiến thức kỹ năng cốt lõi do phân tích nghề (do doanh nghiệp phân tích) để đưa ra là nghề ấy cần bao nhiêu nhiệm vụ, công việc, bao nhiêu kỹ năng, năng lực gì, đến đâu.


“Chương trình khung ấy được ban hành trên cơ sở nhu cầu về kiến thức, kỹ năng do doanh nghiệp đòi hỏi. Có thể nói rằng cái mà chúng ta dạy là dạy nghề theo kiểu hướng cầu - dạy nghề theo nhu cầu của doanh nghiệp” – ông Lân nhận định.


Đây cũng là một điểm khẳng định chất lượng đào tạo nghề của Việt Nam, ông Lân cho hay

“Không phải tự dưng đi thi, mình rất yếu mà mình lại đứng nhất. Đây cũng không phải là lần nhất duy nhất, chúng ta đã có 2 lần nhất khác. Chúng ta thi 8 lần thì 3 lần nhất, 2 lần nhì. Như thế đã khẳng định đẳng cấp của dạy nghề Việt Nam chứ chúng ta không thể nói rằng chúng ta ăn may”, ông Lân nói thêm.


65% cơ sở dạy nghề là công lập và trong doanh nghiệp Nhà nước




Phân loại mạng lưới cơ sở dạy nghề. Nguồn: Tổng cục Dạy nghề.


Phân loại mạng lưới cơ sở dạy nghề. Nguồn: Tổng cục Dạy nghề.


Theo thống kê của Tổng cục Dạy nghề, hiện cả nước có 170 trường cao đẳng nghề, 306 trung cấp nghề và 990 trung tâm dạy nghề.


Theo phân loại năm 2013, có 62% cơ sở dạy nghề thuộc khu vực công lập, 3% thuộc khối doanh nghiệp Nhà nước và 35% cơ sở ngoài công lập.


3,51% lao động nông nghiệp có chuyên môn kỹ thuật


Theo thông tin từ PGS.TS Dương Đức Lân, mặc dù tăng tới 18% so với năm 2010, tỷ lệ lao động qua đào tạo năm 2013 chỉ ước khoảng 49% lao động. Con số này trong năm 2010 là 40%, năm 2000 còn khiêm tốn hơn – 16%.


Vì sao lao động Việt thi tay nghề đứng đầu ASEAN, nhưng năng suất chung vẫn thấp? (1)

Nhưng đấy là tỷ lệ lao động qua đào tạo nói chung của tất cả các ngành, còn tỷ lệ trong nông nghiệp thấp hơn rất nhiều. Lao động có chuyên môn kỹ thuật, bằng cấp ở nông nghiệp chỉ đạt 3,51%, trong đó trên 20% là số được đào tạo nhưng hết sức đơn giản, ngắn ngày, dưới 3 tháng.


“Có thể nói, tỷ lệ lao động trong nông nghiệp được đào tạo hết sức thấp, đấy là một trong những nguyên nhân dẫn đến năng suất lao động thấp”, ông Lân cho biết.


Lao động nông nghiệp: Số lượng = 1/2, sản lượng = 1/5 cả nước


Theo số liệu của tổng cục thông kê, năng suất lao động của Việt Nam đạt 68,7 triệu đồng/người, còn trong khu vực nông nghiệp là thấp nhất, chỉ đạt 27 triệu đồng/người, bằng 1/3 so với bình quân chung của cả nước.


“Trong khi tại các nước, lao động trong nông nghiệp chỉ chiếm 3 – 5%, nhưng người ta có thể cung cấp lương thực, thực phẩm cho cả đất nước và xuất khẩu. Nhưng hiện nay, lao động của chúng ta, nếu tính đến năm 2014, 47% lao động vẫn làm trong lĩnh vực nông nghiệp nhưng chỉ tạo ra lương GDP rất thấp, nếu tính cả nông – lâm – ngư nghiệp mới được 18%, còn riêng nông nghiệp không thì chỉ có 14% trong tổng GDP cả nước”, ông Lân nói.


Có thể nói rằng một lượng lao động rất lớn nhưng tạo ra lượng GDP ko lớn lắm, là nguyên nhân kéo năng suất lao động của cả nước thấp”.


Năng suất lao động thấp do Việt Nam nghèo?


Một người Singapore làm việc bằng 15 người Việt Nam. Ở một góc độ khác, Singapore luôn nằm trong những nước có GDP/người cao nhất thế giới.


Một người Singapore làm việc bằng 15 người Việt Nam. Ở một góc độ khác, Singapore luôn nằm trong những nước có GDP/người cao nhất thế giới.


Tại phiên thảo luận toàn thể của Quốc hội chiều 30/10, Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam Nguyễn Thiện Nhân đã đưa ra nhận định trên.


Theo ông Nhân, ILO tính năng suất lao động theo công thức GDP/Tổng số lao động đang làm việc trong nền kinh tế.


Như vậy, khi tỷ lệ người làm việc trong dân số giữa các nước là xấp xỉ như nhau thì so sánh năng suất lao động giữa các nước cũng tương đương như so sánh GDP/người của các nước.


Việt Nam mới thoát nghèo (thoát ngưỡng 1.000 USDGDP/người) vào năm 2008. “Khi đó, GDP/người của Singapore là 39.700 USD, gấp hơn 34 lần Việt Nam; của Nhật Bản là 37.800 USD, gấp 33 lần Việt Nam; của Hàn Quốc là 20.500 USD, gấp 18 lần Việt Nam; của Malaysia là 8.400 USD, gấp 7 lần Việt Nam và của Thái Lan là 4.100 USD, gấp 3,6 lần Việt Nam”.


Tức là câu hỏi: “Vì sao NSLĐ của Việt Nam thấp?” hoàn toàn tương tự như câu hỏi: “Vì sao Việt Nam nghèo?””, ông Nhân nhận định.
 Theo Infonet

Bài đăng phổ biến