Hiển thị các bài đăng có nhãn Tài chính. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tài chính. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 5 tháng 12, 2014

TS. Nguyễn Trí Hiếu: Nghỉ Tết 9 ngày sẽ thiệt hại 2% GDP

Việc nghỉ Tết 9 ngày khiến năng lực sản xuất của cả nền kinh tế rất thấp trong tháng 2.2015, dẫn đến năng lực làm việc thấp, tất cả hoạt động kinh doanh sẽ bị ảnh hưởng... 

Tại phiên họp thường kỳ tháng 11.2014, ngày 1.12, Chính phủ đã thảo luận và nhất trí về nội dung tờ trình của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội về việc nghỉ Tết Nguyên đán và hoán đổi ngày nghỉ hàng tuần vào dịp nghỉ lễ năm 2015 với cán bộ, công chức, viên chức. 

Theo đó, Tết Nguyên đán 2015 (từ 15.2 đến hết ngày 23.2.2015) sẽ có 9 ngày nghỉ liên tục, tết Dương lịch 2015 được nghỉ 4 ngày. Thời gian nghỉ sẽ được các cơ quan đơn vị bố trí lịch làm bù.
Là người từng sống và làm việc nhiều năm tại Mỹ, chuyên gia tài chính ngân hàng - TS Nguyễn Trí Hiếu đã phân tích quyết định này ảnh hưởng thế nào đến sức sản xuất của nền kinh tế Việt Nam.

Nói là 9 ngày nhưng thực tế đến... 3 tuần


Theo TS. Nguyễn Trí Hiếu, ở đây có 2 cách nhìn, thứ nhất là ở góc nhìn văn hóa. 
Người Việt Nam có câu “tháng giêng là tháng ăn chơi”, nên thời gian nghỉ Tết 9 ngày giúp người dân có thêm thời gian nghỉ ngơi và đi chơi Tết. Khoảng thời gian nghỉ dài cũng giúp người thân gia đình có thể sum họp gặp gỡ nhau nhiều hơn, đặc biệt trong bối cảnh nền kinh tế thị trường bận rộn.

Ngày xưa người mình ở đâu thường làm ở đó, sinh sống quanh đồng ruộng trong lũy tre làng. Còn ngày nay, con người di chuyển từ Nam ra Bắc rồi từ Bắc vào Nam để làm việc, thành ra thời gian nghỉ tết kéo dài để người ta có thêm thời gian. 
Nhìn từ góc độ văn hóa, thời gian nghỉ tết lên đến 9 ngày như Chính phủ quyết định là hợp với tập quán, truyến thống.

Tuy nhiên, đứng trên quan điểm kinh tế thì đây là kỳ nghỉ quá dài. 
Ví dụ, bên Mỹ ít có khi nào có kỳ nghỉ dài như vậy trừ kỳ nghỉ lễ Tạ ơn vào thứ 5 nhưng phải làm lại vào thứ 6, do đó thường họ sẽ xin nghỉ cả ngày thứ 6 sau đó đi làm bù để có trọn 4 ngày nghỉ. Vì vậy kỳ nghỉ được xem là dài nhất là dịp lễ Tạ ơn. 
Còn lại nhiều nhất ngày nghỉ chỉ kéo dài 3 ngày thứ 6, thứ 7 và chủ nhật hoặc thứ 7, chủ nhật và thứ hai... rất ít khi họ kéo dài ngày nghỉ cả hơn một tuần như Việt Nam.

Với lịch nghỉ tết quá dài, ngoại trừ việc có thể thúc đẩy nhu cầu mua sắm trong dân, đẩy sức cầu của nền kinh tế đi lên còn lại thời gian nghỉ tết dài gây ra tiêu cực. 
Thứ nhất kỳ nghỉ kéo dài làm giảm năng lực làm việc, năng lực làm việc của người Việt Nam đã thấp lại thêm ngày nghỉ tết dài nền kinh tế sẽ mất sức lao động, tất cả hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ bị ảnh hưởng. Do đó nếu tính thiệt hại về GDP với 9 ngày nghỉ trên 365 ngày thì sẽ mất khoảng 2% GDP. Một thiệt hại rất lớn.

Thứ hai về khía cạnh hội nhập toàn cầu, việc để ngày nghỉ tết quá dài có những tiêu cực, bởi trong khi cả thế giới làm việc vào giữa tháng 2 (năm 2015) thì mình lại nghỉ đến 9 ngày. Như chúng ta cũng biết thời gian đầu năm là giai đoạn quan trọng để thúc đẩy nền kinh tế thì mình lại nghỉ dài hạn.

Mặt khác, cần thấy rõ ngày nghỉ Tết tuy quy định 9 ngày nghỉ nhưng trong thực tế ngày nghỉ nhiều hơn. Ngay từ trước Tết khoảng 1 tuần lễ, các cơ quan rục rịch nghỉ tết hoạt động không hiệu quả, cơ quan hoạt động lẻ tẻ lãnh đạo nghỉ chúc mừng nhau, tiệc tùng tổng kết cuối năm…

Sau Tết, rất nhiều nơi còn "lảng vảng" không khí Tết, ít nhất kéo dài thêm 1 tuần lễ nữa. Vì vậy, chắc chắn dịp Tết năm nay chúng ta phải mất khoảng 3 tuần lễ trước trong và sau tết trước khi công việc trở lại bình thường.

Chỉ nên nghỉ 3 ngày là đủ

Ở phương Tây, họ không có ngày nghỉ kéo dài mà chỉ có nghỉ ngắn ngày, họ không mất thời gian chuẩn bị, do đó sau kỳ nghỉ bắt đầu vào công việc rất nhanh. 
Ngay cả Lễ Giáng Sinh cũng vậy, bên Mỹ ngay ngày 24 - đêm Giáng sinh, vẫn làm việc bình thường nếu về sớm nhất cũng phải sau 4 giờ chiều không ai về sớm hơn. Thậm chí ngày 25 là ngày lễ Giáng sinh nếu có nghỉ lễ cũng phải làm việc sau 12 giờ trưa.

Còn ngày giao thừa trước khi bước sang năm mới, nếu là ngày làm việc thì thường họ phải làm việc sau 12 giờ trưa mới được về chuẩn bị đón năm mới. Điều đó khác xa với cách chúng ta cho nghỉ quá dài. Điều đó lý giải tại sao năng suất lao động các nước phương Tây đặc biệt Mỹ luôn cao hơn Việt Nam nhiều lần.

Việc ngày nghỉ kéo dài khiến năng lực sản xuất của cả nền kinh tế rất thấp trong tháng 2, dẫn đến năng lực làm việc thấp. Do vậy, gần như chúng ta mất gần hết cả tháng 2 trước khi mọi hoạt động trở lại bình thường, nên với thời gian nghỉ tết như vậy với phong tục tập quán văn hóa “tháng ăn chơi” ảnh hưởng đến nền kinh tế rất nhiều.

"Ở khía cạnh cá nhân tôi cho rằng thời gian nghỉ tết đến 9 ngày là quá dài. Theo tôi ngày nghỉ tết chỉ nên kéo dài 3 ngày là đủ gồm mùng 1, mùng 2 và mùng 3", ông nói.
Năng suất lao động của Việt Nam năm 2013 thuộc nhóm thấp nhất khu vực châu Á - Thái Bình Dương, thấp hơn Singapore 15 lần, thấp hơn Nhật Bản 11 lần và thấp hơn Hàn Quốc 10 lần... so với các nước ASEAN - 6 (các nước phát triển hơn trong ASEAN) và đứng cuối bảng so với các nước châu Á - Thái Bình Dương. Năng suất lao động Việt Nam bằng 1/5 lao động Malaysia, 2/5 Thái Lan và 1/15 Singapore. (theo báo cáo Tổ chức Lao động quốc tế mới công bố)
(Theo Giáo dục Việt Nam)

Thứ Tư, 3 tháng 12, 2014

Chứng khoán khó tuyển người

Từ đầu năm đến nay nhiều CTCK như VnDirect, FPTS, HSC, SHS, SHBS… liên tục đăng thông báo tuyển dụng nhân sự. Tuy nhiên, tuyển đủ được số lượng như kế hoạch là điều không dễ dàng. Tổng giám đốc không ít CTCK đã phải thốt lên “khó nhất là việc tìm người”. 
Tại sao chứng khoán khó tìm người? Theo lý giải của Tổng giám đốc một CTCK trực thuộc ngân hàng, sau những biến động của thị trường suốt 4 - 5 năm qua, trong con mắt của nhiều người, chứng khoán là nghề rất bấp bênh. Nhân sự có kinh nghiệm về tài chính thường muốn tìm bến đậu ổn định hơn và họ chọn doanh nghiệp hoặc các ngân hàng. 

Người làm nghề chứng khoán hầu hết vẫn là những gương mặt cũ nên loanh quanh cũng chỉ từng ấy người. CTCK này có thêm người mới, đồng nghĩa với việc CTCK kia mất người. Trong khi đó,  lại có rất nhiều nhân sự đang làm chứng khoán chuyển nghề. Trưởng phòng đầu tư một CTCK hạng khá mới đây thông báo anh chuyển sang làm cho một tổ chức phi chính phủ và giúp bà xã quản lý 2 - 3 nhà trẻ mầm non mà vợ chồng anh mới mở. Nguồn thu ổn định, khá cao so với nhu cầu của bản thân và gia đình và cái được nhất theo anh là “không nhọc” đầu.

Một nguyên nhân nữa khiến chứng khoán khó tuyển người theo chia sẻ của vị tổng giám đốc trên là CEO nhiều CTCK thường rất cầu toàn. Như bản thân ông luôn muốn tuyển người giỏi có thể làm được việc ngay mà không phải đào tạo. Muốn vậy, mức lương của Công ty trả cho nhân sự phải cạnh tranh và tạo cho họ cơ hội để thăng tiến và có nhiều trải nghiệm nghề nghiệp tốt. Những điều kiện như vậy thì doanh nghiệp lại không đáp ứng được do nguồn lực còn hạn chế. Cũng chính vì tâm lý cầu toàn, nhiều nghiệp vụ chứng khoán lại không dễ đào tạo và mất thời gian dài để nhân sự có thể tích lũy kinh nghiệm, nên việc tuyển dụng của nhiều CTCK hiện nay chủ yếu theo kiểu “câu kéo”, đánh tỉa hơn là thực hiện bài bản, theo từng đợt quy mô…

Sau một hồi vừa trực tiếp săn đầu người, vừa nhờ công ty tuyển dụng chuyên nghiệp mà vẫn khó tìm được nhân sự theo kế hoạch, một CTCK trong top 10 mới đây đã thực hiện chính sách nhân sự mới: tuyển sinh viên mới ra trường và áp dụng chế độ đào tạo kiểu bánh kem, 2 nhân sự cũ kèm 1 nhân viên tập sự. Trưởng bộ phận tư vấn của CTCK này chia sẻ, chính sách mới tỏ ra khá hữu dụng vì tuy không có kinh nghiệm và mối quan hệ dày nhưng nhân sự trẻ có sức khỏe và thời gian đầu tư cho công việc lớn. Chỉ cần tìm được đúng người say nghề và có tính chủ động, sau khoảng 1 năm, nhân sự mới đã có thể một mình độc lập tác chiến tại doanh nghiệp mà không cần làm việc cả nhóm như trước. 

Nhưng đào tạo được người không dễ, giữ được người còn khó hơn. Mới đây, cũng chính vị trưởng bộ phận tư vấn này thông báo 3/5 nhân sự trẻ mà Công ty đã dày công đào tạo vừa xin nghỉ việc để chuyển sang một CTCK có tên tuổi hơn. Điều kiện mà CTCK nọ đưa ra chỉ đơn giản là có ít nhất 1 năm kinh nghiệm, lương và chế độ đãi ngộ, cơ hội tích lũy kinh nghiệm thì hơn hẳn, nên dù rất cố gắng mà vị trưởng phòng vẫn không thể giữ được người.

Trong khi đó, ông Bùi Ngọc Quốc Hưng, Giám đốc điều hành CareerBuilder Vietnam cho biết, xu hướng lựa chọn nghề nghiệp và ứng tuyển của sinh viên mới ra trường lại không mặn mà với chứng khoán. Danh sách 10 lĩnh vực được ứng tuyển trực tuyến cao nhất trên trang CareerBuilder.vn gồm  (1) Bán hàng/Kinh doanh, (2) Kế toán/Kiểm toán, (3) Hành chính/Thư ký, (4) Tiếp thị & Marketing, (5) Cơ khí/Ô tô/Tự động hóa, (6) Nhân sự, (7) Điện/Điện tử/Điện lạnh, (8) Chăm sóc khách hàng, (9) Sản xuất/Sản xuất vận hành, (10) Tài chính/Đầu tư.

Vietnamwork hiện đang có 47 nhu cầu tuyển dụng cho ngành chứng khoán. Trong đó, nhiều nhất là nhu cầu tuyển chuyên viên tư vấn tài chính doanh nghiệp, chuyên viên phân tích tài chính, nhân viên công nghệ thông tin, chuyên viên quản trị, nhân viên môi giới và mạng lưới bán hàng, chuyên viên phân tích cao cấp, nhân viên dịch vụ khách hàng, giám đốc bộ phận dịch vụ khách hàng, nhân viên môi giới, chuyên viên đầu tư chứng khoán, giám đốc phân tích…
Theo Tin Nhanh Chứng Khoán

Thứ Tư, 26 tháng 11, 2014

7 bí quyết đầu tư của các tỷ phú tự lập thân

Theo tạp chí Forbes, trên thế giới có hơn 1.400 tỷ phú. Nhiều người trở nên giàu có khi họ phát triển những mối bận tâm nhỏ thành những công ty được công chúng rộng rãi biết tới như Microsoft, Oracle và Google 

Theo tạp chí Forbes, trên thế giới có hơn 1.400 tỷ phú . Chắc chắn một số người trong số này được thừa kế gia sản của cha mẹ họ. Nhiều người trở nên giàu có khi họ phát triển những mối bận tâm nhỏ thành những công ty được công chúng rộng rãi biết tới như Microsoft, Oracle và Google. Một doanh nhân mua lại những công ty trước đây từng do các chính phủ nước ngoài điều hành và đã thu được lợi nhuận từ các quá trình tư nhân hóa.

Các câu chuyện Tôi đã trở thành tỷ phú như thế nào luôn có sức hấp dẫn. Thường chúng sẽ bao gồm việc nhận ra các cơ hội thị trường và sự sẵn sàng đón nhận những rủi ro lớn cùng với quan điểm bỏ qua quan điểm của số đông về hoạt động kinh doanh và triết lý đầu tư của họ.

Tôi (Julie Rains- tác giả bài viết) bị hấp dẫn nhất bởi các bí quyết của các tỷ phú tự thân, những người đã tạo dựng sự giàu có chủ yếu nhờ sự đầu tư cá nhân. Khi đọc các câu chuyện của họ, tôi đã phát hiện ra những thuộc tính chung của những người siêu giàu này và có một số thuộc tính một nhà đầu tư thông thường có thể hình dung được một phần.

1. Đầu tư theo giá trị

Tôi biết rằng Warren Buffett từng là một nhà đầu tư vào giá trị, nhưng tôi không ngờ rằng có quá nhiều tỷ phú có cùng triết lý này. Ví dụ, Graeme Hart, Suleiman Kerimov, và Seth Klarman cũng đầu tư vào các công ty đang gặp khó khăn và không nổi tiếng.

Họ mua các cổ phiếu phổ thông khi giá còn thấp và mua lại cổ phần lớn tại các công ty do tư nhân làm chủ đang gặp khó khăn. Đôi khi, họ chờ giá trị trên thị trường tăng trước khi rút tiền mặt. Mặc dù thông thường, họ tăng giá trị bằng cách cải tạo lại hoạt động của kinh doanh, bán đi những tài sản không dùng đến và tái cấu trúc tài chính để tạo ra dòng tiền mặt mạnh.

2. Mua lại hoặc tạo dựng các công ty bằng tiền của người khác

Những nhà đầu tư này không e ngại việc mượn tiền hoặc phối hợp mua lại doanh nghiệp thông qua các đòn bẩy tài chính.

Ví dụ, Eli Broad đã cùng sáng lập nên công ty xây dựng nhà Kaufman & Broad (hiện nay là KB Home) với một khoản vay trị giá 25 ngàn đô la từ người thân. Tương tự như vậy, Harold Simmons đã mua cửa hàng thuốc đầu tiên của ông với 5 ngàn đô la tiền mặt tự có và 95 ngàn đô la đi vay, và sau đó đã dùng đòn bẩy mua lại (LBOs) để mua lại các doanh nghiệp được định giá thấp. Ira Rennert đã phát hành các trái phiếu vô giá trị để mua lại các công ty đang gặp khó khăn.

3. Phát tài với số lượng hạn chế các vụ đầu tư

Nhiều tỷ phú đã tạo được khối tài sản đầu tiên nhờ một hoặc hai vụ đầu tư lớn. Họ dành phần lớn thời gian mới lập nghiệp để tập trung phát triển một doanh nghiệp hoặc một loại hình đầu tư.

Ví dụ, Simmons đã dành 13 năm tạo dựng chuỗi cửa hàng thuốc và sau này ông đã bán cho Eckerd Corporation với giá 50 triệu đô la vào năm 1973. Philip Anschutz đã giàu có nhờ mua được vùng đất có dầu mỏ gần biên giới Utah-Wyoming.

Albert Frere đã tích lũy được những tài sản quan trọng trong ngành công nghiệp thép của Bỉ trước khi mở công ty đầu tư. Peter Lim đã đầu tư vào Wilmar, một công ty sản xuất dầu palm, và đây là nguồn tạo ra sự giàu có ban đầu của ông.

4. Xây dựng kiến thức nền tảng về Tài chính, Kế toán hoặc Kinh tế

Hầu hết các tỷ phú tự thân đã từng học hoặc làm việc trong lĩnh vực tài chính. Các khóa học tại trường đại học dạy cho họ những kiến thức cơ bản về kinh doanh và những công việc đầu tiên cung cấp những hiểu biết sâu về hoạt động tài chính trong đời thực. Những kiến thức nền tảng này sau đó đã tạo nên triết lý và chiến lược đầu tư của họ.

Buffett đã học đầu tư vào giá trị từ Benjamin Graham, người được coi là tác giả của phương pháp này. Kerimov và Lim đều học kế toán và Hart bắt đầu hình thành khái niệm về công việc kinh doanh của ông khi đang hoàn thành chương trình MBA. Cả Lim và Buffett đều từng làm công việc môi giới cổ phiếu, trong khi Simmons làm chủ ngân hàng và chuyên gia phân tích ngân hàng.

5. Bắt đầu tạo dựng sự giàu có từ khi còn trẻ

Nhiều tỷ phú bắt đầu quá trình làm giàu ở độ tuổi 20, 30 hoặc sớm hơn.

Ví dụ, Buffett và Lim đã mua những cổ phần đầu tiên khi vừa mới 20 tuổi và Broad đã mua khối bất động sản đầu tiên ở tuổi 20. Klarman ở độ tuổi 25 khi mở Baupost Group, và Frere bắt đầu mua lại các công ty trong ngành thép ở tuổi 30.

6. Không bị nao núng bởi những thất bại

Các tỷ phú thỉnh thoảng cũng gặp thất bại. Nhưng thay vì rút lui khỏi thị trường thế giới , họ vẫn tiếp tục đầu tư.

Một ví dụ điển hình là Kerimov. Ông đã mất hàng tỷ đô la sau khi bán khối tài sản tại Nga để mua cổ phần của Morgan Stanley, Goldman Sachs, Deutsche Bank, và Credit Suisse vào năm 2008- năm khủng hoảng tài chính toàn cầu. Để khôi phục lại tài sản, ông đã vay để đầu tư vào việc khai mỏ, bất động sản và viễn thông. Vào tháng 3/2013, thu nhập ròng của ông đã đạt mức 7.5tỷ đô la.

7. Đa dạng hóa việc đầu tư sau khi đã phát tài

Nhiều tỷ phú có thể làm giàu được từ một hoặc hai nguông, nhưng họ đa dạng hóa khối tài sản của họ sau khi trở nên giàu có. Nhiều người tạo dựng các công ty cổ phần để phục vụ cho các hoạt động đầu tư rộng rãi trong khi những người khác kiếm được từ những lĩnh vực hạn chế hơn.

Giống như Buffett thành lập Berkshire Hathaway là công ty cổ phần với danh mục đầu tư đa dạng, Rennert đã mở Renco Group; Hart, Rank Group; và Simmons, Valhi. Một số người vẫn tập trung vào một số lĩnh vực chủ chốt nhưng được đa dạng hóa rộng hơn trước.

Ví dụ, Anschutz sở hữu Xanterra, cung cấp các dịch vụ khách sạn trong các công viên quốc gia, và AEG, một tập đoàn giải trí và thể thao, chuyên quản lý các địa điểm tổ chức hòa nhạc, các nghệ sỹ làm việc trong lĩnh vực âm nhạc, v.v.

Vậy một nhà đầu tư thông thường có thể học được gì từ những câu chuyện thành công này?

• Bắt đầu làm giàu từ những đồng lương đầu tiên của bạn, không kể bạn kiếm được từ một việc kinh doanh thêm hay là công việc đầu tiên.

• Đừng ngại mạo hiểm, nhất là khi bạn còn trẻ và có thời gian để khôi phục lại tài sản, nhưng hãy cấu trúc tài chính để bạn luôn có dòng tiền để trả nợ.

• Theo đuổi các cơ hội để thu lợi cao, nhận ra rằng những cơ hội đó có thể bắt nguồn từ những thương vụ kinh doanh đòi hỏi sự tham gia trực tiếp cũng như sự nguồn tài chính mạnh và khả năng lãnh đạo hoạt động chứ không chỉ đơn thuần là một vài vụ đầu tư điển hình vào một thị trường mở.

• Học những kiến thức cơ bản về tài chính để đánh giá các cơ hội và quản lý danh mục đầu tư của bạn. Hãy nhớ rằng bạn có khả năng hạn chế đối với việc theo dõi các khoản đầu tư của mình, vì vật hãy lựa chọn khôn ngoan (mua cổ phiếu có giá trị thấp).

• Đừng nao núng vì những thất bại, hãy áp dụng những gì đã học được vào lần đầu tư tiếp theo. Đa dạng hóa khi bạn đã giàu có để tránh tổn thất nặng nề và bất ngờ.

• Cuối cùng, dù bạn có dùng những bí quyết đã được các tỷ phú áp dụng rộng rãi này hay không, nếu cách đầu tư của bạn đã cho những hiệu quả lâu dài thì hãy cứ tiếp tục.
 
Theo Học Làm Giàu
 

Thứ Ba, 18 tháng 11, 2014

Bạn sẽ chẳng bao giờ giàu có nếu chỉ cố ‘thắt lưng buộc bụng’

Bạn không thể trở nên giàu có mà không tập trung giảm chi tiêu song hành cùng việc phát triển thu nhập. 
Bill Gates không đạt được vị trí giàu có số 1 thế giới như hiện nay chỉ bằng việc cắt giảm chi tiêu
Một trong những quy tắc được nói nhiều nhất về quản lý tài chính cá nhân là cố gắng sống trong khả năng bạn có. Điều này được hiểu đơn giản là đừng nên tiêu nhiều hơn số tiền bạn kiếm được. Dù là một trong những quy tắc “kinh điển” nhưng thực tế nhiều người vẫn không muốn tuân thủ theo hoặc gặp rắc rối trong quá trình thực hiện việc này.

Dưới đây là bài viết chia sẻ của  Grayson Bell, tác giả xuất sắc của nhiều bài báo về tài chính.


Với tư cách là một tác giả chuyên về lĩnh vực tài chính, tôi đã nhiều lần nhắc đi nhắc lại về vấn đề làm thế nào để cắt giảm chi tiêu. Tuy nhiên, đôi lúc tôi nhận ra sự cắt giảm vẫn thường được nhắc đến đang trở nên quá tải. Cắt giảm hoá đơn thực phẩm, gas, vật dụng và điện thoại… Đúng vậy, khi vướng vào một món nợ, việc đầu tiên tôi nghĩ mình cần phải làm là cắt giảm chi tiêu. Tôi đã sống quá phung phí, thậm chí nhiều hơn những gì mình có. 


Tuy nhiên, bạn đã bao giờ nghĩ đến chuyện gì sẽ xảy ra sau khi bạn thực hiện cắt giảm chi tiêu hay chưa? Liệu bạn có đủ dư ra một khoản tiền để có thể trả hết món nợ hay không? Câu trả lời là không. 


Bạn chỉ nên cắt giảm chi tiêu thật nhiều thời điểm trước khi bữa cơm của bạn chỉ có gạo và đậu phụ. Câu hỏi đặt ra là, cắt giảm chi tiêu (đồng nghĩa với mức sống của bạn bị giảm sút) thì sức khoẻ của bạn sẽ ra sao?


Sức khoẻ tăng khi thu nhập tăng

Tôi cá là bạn đã từng đọc nhiều website nói về việc cắt giảm chi phí. Tại sao lại vậy, tôi nghĩ bởi vì ai ai cũng có thể làm được việc này. Chúng ta có sợ phải nói cho người khác cách thức để kiếm được nhiều tiền hơn hay không? Chúng ta có nghĩ họ sẽ không muốn nghe và khó có thể kiểm tra thực tế? Không, ít nhất là trong bài báo này. 

Chúng tôi sẽ nói về chiến lược để khiến tiền bạc của bạn có thể phát triển được nhiều hơn. Chúng tôi có thể cho bạn thấy 1.001 cách để cắt giảm chi tiêu nhưng những điều này đều là hữu hạn, điều chúng tôi muốn là cung cấp cho bạn cách làm sao để kiếm được nhiều tiền hơn.


Bạn không thể “rút gọn” con đường đi đến sự giàu có

Sự giàu có được tạo nên bởi yếu tố: Phải sống dưới mức bạn đang có (tiết kiệm) và kiếm nhiều tiền hơn. Có nhiều cách để kiếm nhiều hơn. Tuy nhiên, để làm được việc này đòi hỏi phải có sự sáng tạo, bất chấp quy tắc, sẵn sàng lao tới thành công. Bạn không thể chỉ ngồi đó hy vọng kiếm nhiều tiền hơn và cầu nguyện cho nó trở thành hiện thực. Bạn cần phải nỗ lực và trải qua rất nhiều khó khăn mới có được nó.

Những người kiếm được nhiều hơn so với thông thường bởi họ đặt chính bản thân mình vào nhu cầu thực tế. Họ tìm kiếm cơ hội mà không chịu ngồi chờ cho đến khi nó xảy ra. Họ nỗ lực học hỏi, tìm hiểu cách để phát triển tiền bạc của mình một cách tốt nhất. Đây chính là cách để trở nên giàu có. Tiền bạc cần phải làm việc cho bạn, bạn không phải là người làm việc cho nó.


Luôn luôn tập trung vào cả hai mặt của phép toán

Giàu có = Tăng thu nhập + Giảm chi tiêu


Cần phải nhớ rằng, thu nhập đến bằng rất nhiều cách khác nhau. Bạn có thể kiếm được nó thông qua quá trình làm việc nhưng bạn cũng có thể kiếm nó thông qua việc đầu tư. 


Bạn không thể trở nên giàu có mà không tập trung giảm chi tiêu song hành cùng việc phát triển thu nhập. Nếu chỉ làm được 1 trong hai việc kể trên, giàu có sẽ không thể đến với bạn.
Theo Infonet

Thứ Hai, 17 tháng 11, 2014

10 tỷ phú giàu nhất nước Anh năm 2014

10 tỷ phú giàu nhất nước Anh đều có tên trong danh sách những tỷ phú thế giới của Forbes và kinh doanh chủ yếu trong lĩnh vực bất động sản, tài chính, ngân hàng và bán lẻ.

Anh luôn tự hào là một nước có số lượng tỷ phú thuộc hàng cao nhất thế giới, đặc biệt tập trung ở thủ đô London. Theo thống kê của Sunday Times năm 2014, lần đầu tiên Anh có số lượng tỷ phú vượt qua con số 100.

Ngoài những tỷ phú tự thân lập nghiệp, sự giàu có của nhiều tỷ phú Anh còn phần lớn được thừa kế từ khối tài sản kếch sù của tổ tiên hoặc gia đình đã được duy trì qua nhiều thế hệ.
Dưới đây là danh sách 10 tỷ phú giàu nhất Anh được The Richest xác định thông qua các số liệu từ BloombergForbes.

10. Bruno Schroder và gia đình: Giá trị tài sản 4,5 tỷ USD
Bruno Schroder là người thừa kế thế hệ thứ tư trong gia đình quản lý của công ty dịch vụ tài chính ngân hàng Schroders.Đầu năm 2014, cổ phiếu của Schroders đã chạm đỉnh, tăng hơn 1/3 so với năm trước khiến cho khối tài sản của gia đình ông đạt mức 4,5 tỷ USD. Thực chất, khối tài sản này, ông chỉ phải chia sẻ với người em gái, Charmaine.

Ngoài ra, Schroder còn được gọi là một "chúa đất" ở Scotland nhờ sở hữu khối bất động sản khủng trên quần đảo này. Ông sống trên đảo Islay và khá hào phóng khi bỏ tiền khôi phục lại một nhà máy chưng cất rượu whisky cũ cũng như tài trợ cho các hoạt động cộng đồng ở địa phương và thành lập một đội xuống cứu hộ trên đảo (đội mà đã cứu sống được 5 người kể từ khi thành lập).

9. Joe Lewis: Giá trị tài sản 4,7 triệu USD
Sinh ra tại London, Anh nhưng hoạt động kinh doanh chính của Joe Lewis chủ yếu diễn ra tại quốc đảo Bahamas nên ông thường xuyên làm việc trên du thuyền cá nhân.Mặc là người Anh nhưng Lewis lại sở hữu một khối bất động sản lớn ở Mỹ. Ông đã xây dựng một khu đô thị y tế tại Lake Nona, gần Orlando, Mỹ. Đây hiện là một trong những đô thị phát triển nhanh nhất tại Mỹ với bốn cơ sở y tế lớn trên diện tích 7.000ha và bán ra 45 căn mỗi tháng. Nó được coi là một trong tám thành phố "Thông minh + Kết nối" của thế kỷ 21.

Ngoài ra, Lewis còn nắm giữ cổ phần của hơn 200 công ty thông qua quỹ đầu tư Group Tavistock của mình. Trong đó, đáng chú ý nhất phải kể đến đội bóng đá Tottenham Hotspur (Spurs), và Mitchell & Butlers plc - công ty điều hành quán rượu lớn nhất của Vương quốc Anh.

Ông cũng sơ hữu một bộ sưu tập nghệ thuật trị giá khoảng 1 tỷ USD, bao gồm nhiều tác phẩm của các danh họa Picasso, Soutine, Lucian Freud và Francis Bacon.

8. Laurence Graff và gia đình: Giá trị tài sản 4,8 tỷ USD

Laurence Graff bỏ học khi mới 14 tuổi và bắt đầu lăn lộn kiếm sống như như một người thợ học việc ở một xưởng chế tạo kim hoàn. Và khi bước sang tuổi 75 vào năm ngoái, ông đã được Nữ hoàng Anh trao tặng Huân xuất sắc nhất của Đế chế Anh (OBE), vinh dự chỉ xếp sau tước danh Hiệp sĩ.Graff là đang nắm giữ phần lớn quyền cung cấp đồ trang sức kim cương cho tầng lớp thượng lưu trên khắp thế giới, trong đó có những khách hàng lớn như Elizabeth Taylor, Quốc vương Brunei, Donald Trump, Oprah Winfrey, Larry Ellison và rất nhiều người nổi tiếng khác.

Tài sản Graff bao gồm một công ty chế tác kim cương ở Thụy Sĩ, một số lượng lớn cổ phần trong công ty buôn kim cương ở Nam Phi và nhiều bất động sản tại quận Mayfair ở London.
Con trai của ông - Francois hiện là Giám đốc điều hành của Graff Diamonds quốc tế, và bản thân Graff là chủ tịch.

Ngoài ra, Graff còn sở hữu một vườn nho và nhà máy sản xuất rượu vang ở thung lũng Napa của Nam Phi; một bộ sưu tập nghệ thuật đương đại đồ sộ.

Với khối tài sản 4,8 tỷ USD, Graff sống một cuộc sống xứng tầm tỷ phú: ông thường xuyên du lịch nhiều quốc gia, có du thuyền riêng, sở hữu bức tranh Roy Lichtenstein và thu thập những chiếc xe hơi cổ điển.

7. Michael Ashley: Giá trị tài sản 4,8 tỷ USD

Tỷ phú Anh Michael Ashley đã làm nên khối tài sản khổng lồ của mình nhờ thành lập công ty bán lẻ đồ thể thao. Ông bắt đầu chuỗi phân phối quấn áo thể thao ngay khi vừa tốt nghiệp đại học vào năm 1982. Ông cũng là người duy nhất sở hữu chuỗi bán lẻ này cho đến tận năm 2007, khi nó IPO. Sau khi bán một phần công ty cho các cá nhân khác ông đã bỏ túi khoảng 1,8 tỷ USD.

Bên cạnh đó, ông đã bỏ ra khoảng 135 triệu USD để sở hữu câu lạc bộ bóng đá Newcastle United. Ông thường ngồi trên khán đài cùng với người hâm mộ để cổ vũ trong các trận đấu của câu lạc bộ này. Từ tháng 10/2014 Ashley còn nắm giữ 8,92% cổ phần của câu lạc bộ bóng đá Scotland Rangers FC.

6. Philip và Cristina Green: Giá trị tài sản 4,9 tỷ USD

Philip Green là một ông trùm bán lẻ khởi nghiệp bằng việc mua cửa hàng đầu tiên ở London đầu tiên vào lúc 27 tuổi, nơi mà ông đã bán thiết kế của các thương hiệu nổi tiếng để ăn chiết khấu.Năm 2000, sau khi mua lại British Home Stores và làm ăn phát đạt, ông tiếp tục mở thêm các cửa hàng mới.

Sau đó, ông lại mua lại Arcadia Group - tập đoàn bán lẻ sở hữu hàng loạt cửa hàng nổi tiếng như Topshop, Topman, Burton, Dorothy Perkins và Miss Selfridge.

Tiếp đó, ông đã bán đế chế Topshop cho Leonard Green & Partners với giá 763 triệu USD. Hiện nay, giá trị của chuỗi cửa hàng thời trang mà ông đang sở hữu ước tính khoảng 3 tỷ USD.
Ông dùng số tiền của mình để đầu tư ra nước ngoài thông qua quỹ đầu tư Taveta đồng thời chia sẻ khối tài sản với vợ, Cristina.

Green là người rất thích lối sống tỷ phú, ông nổi tiếng với việc đi lại thường xuyên giữa Monaco và London bằng máy bay riêng cũng như có buổi tiệc xa hoa.

5. Richard Branson: Giá trị tài sản 4,9 tỷ USD
Ông trùm thương mại và đầu tư người Anh Richard Branson là người sáng lập nổi tiếng của Virgin Group, tập đoàn sở hữu khoảng 400 công ty con.

Ngay từ năm 16 tuổi, tư chất doanh nhân của Branson đã được khơi dậy khi ông thành lập tạp chí Sinh viên. Tiếp đến, ông bắt đầu khởi động dịch vụ đặt hàng qua thư vào năm 1970 và tiến tới mở cửa hàng Virgin Records hai năm sau đó. Thương hiệu này đã phát triển một cách nhanh chóng vào những năm 1980, cho phép ông mở thêm hãng hàng không Virgin Atlantic và mở rộng nhãn hiệu âm nhạc Virgin Records.

Trong khi công việc kinh doanh của Virgin Records và Virgin Media đang thuận buồm xuôi gió, năm 2004 Branson công bố thành lập thêm công ty du lịch hàng không vũ trụ mang tên Virgin Galactic, nhằm đưa khách du lịch du hành vào không gian. Virgin Galactic gần đây đã thực hiện chuyến đi thứ 3 của mình.

4. Charles Gerald John Cadogan và gia đình: Giá trị tài sản 7,1 tỷ USD
Charles Gerald John Cadogan hiện đang là người đứng đầu của công ty bất động sản Cadogan. Tập đoàn này hiện đang sở hữu khối bất động sản hơn 36ha ở trung tâm thành phố London.

Charles là hậu duệ đời thứ tám của gia tộc Earl Cadogan. Nhiều bất động sản mà gia đình này sở hữu có lịch sử từ năm 1717, bao gồm cả một số khu vực ở thành phố Chelsea. Theo ước tính, các bất động sản mà gia đình Cadogan sở hữu có giá trị khoảng 7 tỷ USD.

Ngoài ra, Charles còn được biết đến với vai trò là chủ tịch của hội Tam Điểm ở Anh và xứ Wales giai đoạn 1999-2004, và chủ tịch của câu lạc bộ bóng đá Chelsea (hiện thuộc sở hữu của tỷ phú người Nga Roman Abramovich) trong những năm 1980.

3. David và Simon Reuben: Giá trị tài sản 10,3 tỷ USD
 David và Simon Reuben đã được sinh ra trong một gia đình giàu có người gốc Do Thái ở Mumbai, Ấn Độ vào những năm 1940. Gia tộc này đã sống ở Ấn Độ (thuộc địa của Anh từ năm 1800 - 1947) trước khi di cư sang Anh vào đầu những năm 1950.

Công ty Reuben Brothers của anh em nhà Reuben kinh doanh chủ yếu trong lĩnh vực bất động sản, cổ phiếu và đầu tư mạo hiểm. Nó được thiết lập như một công ty gia đình.

Reuben Brothers cũng từng đầu tư vào thị trường kim loại Nga và thu về một số tiền lớn, thậm chí có thởi điểm công ty này còn trở thành công ty sản xuất nhôm lớn nhất thế giới.

Tuy nhiên vào năm 2000 họ đã bán tất cả tài sản ở Nga và tập trung vào hoạt động kinh doanh bất động sản ở Anh. Hiện nay, gần một nửa tài sản của họ là tài sản lưu động dưới hình thức tiền mặt và trái phiếu.

2. Hinduja Brothers: Giá trị tài sản 12,8 tỷ USD
Bốn anh em nhà Hinduja chuyển từ Iran (sau sự bùng nổ của cuộc cách mạng Hồi giáo) đến London vào năm 1979 để phát triển hoạt động kinh doanh xuất khẩu của Hinduja Group, tập đoàn được thành lập bởi tổ tiên của họ ở Mumbai vào năm 1914.

Hiện nay, tập đoàn này đã trở thành một tập đoàn đa quốc gia, trong đó, hai người anh cả Srichand và Gopichand chịu trách nhiệm công việc kinh doanh tại trụ sở chính London, Srichand đồng thời cũng là Chủ tịch tập đoàn; người em kế tiếp Prakash chịu trách nhiệm quản lý tài chính của tập đoàn tại Geneva, Thụy Sĩ; trong khi người em út Ashok, giám sát công việc kinh doanh tại Ấn Độ.

Hinduja Group là một trong những tập đoàn kinh doanh đa ngành nghề lớn nhất thế giới, tập đoàn này đã tạo công ăn việc làm cho khoảng 70.000 người trên toàn cầu.

Trong một tuyên bố mới đây, tập đoàn này cho biết sẽ đầu tư khoảng hơn 10 tỷ USD để phục vụ cho các dự án cơ sở hạ tầng và năng lượng đang bị đình trệ ở Ấn Độ.

1. Gerald Grosvenor: Giá trị tài sản 13,6 tỷ USD
 Gerald Grosvenor là người giàu nhất ở Anh. Tỷ phú này từng là cựu sĩ quan quận đội Anh và hiện đang là ông chủ của công ty bất động sản Grosvenor Group (được định giá khoảng 19,8 tỷ USD, tính đến hết năm 2013).

Tái sản của Grosvenor Group dưới thời của Gerald Grosvenor đã vượt xa khỏi những khối bất động sản mà gia đình ông có được kể từ năm 1677, bao gồm 120ha đất ở khu vực Belgravia và Mayfair, London cùng như nhiều tài sản ở nước ngoài như Tây Ban Nha, Ireland, Châu Á và Châu Mỹ.

Xuất thân từ một gia đình hoàng gia nên Grosvenor có quan hệ rất thân thiết với các thành viên trong Hoàng gia Anh.
Theo BizLive

Bài đăng phổ biến