Hiển thị các bài đăng có nhãn Fortune. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Fortune. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 26 tháng 11, 2014

7 bí quyết đầu tư của các tỷ phú tự lập thân

Theo tạp chí Forbes, trên thế giới có hơn 1.400 tỷ phú. Nhiều người trở nên giàu có khi họ phát triển những mối bận tâm nhỏ thành những công ty được công chúng rộng rãi biết tới như Microsoft, Oracle và Google 

Theo tạp chí Forbes, trên thế giới có hơn 1.400 tỷ phú . Chắc chắn một số người trong số này được thừa kế gia sản của cha mẹ họ. Nhiều người trở nên giàu có khi họ phát triển những mối bận tâm nhỏ thành những công ty được công chúng rộng rãi biết tới như Microsoft, Oracle và Google. Một doanh nhân mua lại những công ty trước đây từng do các chính phủ nước ngoài điều hành và đã thu được lợi nhuận từ các quá trình tư nhân hóa.

Các câu chuyện Tôi đã trở thành tỷ phú như thế nào luôn có sức hấp dẫn. Thường chúng sẽ bao gồm việc nhận ra các cơ hội thị trường và sự sẵn sàng đón nhận những rủi ro lớn cùng với quan điểm bỏ qua quan điểm của số đông về hoạt động kinh doanh và triết lý đầu tư của họ.

Tôi (Julie Rains- tác giả bài viết) bị hấp dẫn nhất bởi các bí quyết của các tỷ phú tự thân, những người đã tạo dựng sự giàu có chủ yếu nhờ sự đầu tư cá nhân. Khi đọc các câu chuyện của họ, tôi đã phát hiện ra những thuộc tính chung của những người siêu giàu này và có một số thuộc tính một nhà đầu tư thông thường có thể hình dung được một phần.

1. Đầu tư theo giá trị

Tôi biết rằng Warren Buffett từng là một nhà đầu tư vào giá trị, nhưng tôi không ngờ rằng có quá nhiều tỷ phú có cùng triết lý này. Ví dụ, Graeme Hart, Suleiman Kerimov, và Seth Klarman cũng đầu tư vào các công ty đang gặp khó khăn và không nổi tiếng.

Họ mua các cổ phiếu phổ thông khi giá còn thấp và mua lại cổ phần lớn tại các công ty do tư nhân làm chủ đang gặp khó khăn. Đôi khi, họ chờ giá trị trên thị trường tăng trước khi rút tiền mặt. Mặc dù thông thường, họ tăng giá trị bằng cách cải tạo lại hoạt động của kinh doanh, bán đi những tài sản không dùng đến và tái cấu trúc tài chính để tạo ra dòng tiền mặt mạnh.

2. Mua lại hoặc tạo dựng các công ty bằng tiền của người khác

Những nhà đầu tư này không e ngại việc mượn tiền hoặc phối hợp mua lại doanh nghiệp thông qua các đòn bẩy tài chính.

Ví dụ, Eli Broad đã cùng sáng lập nên công ty xây dựng nhà Kaufman & Broad (hiện nay là KB Home) với một khoản vay trị giá 25 ngàn đô la từ người thân. Tương tự như vậy, Harold Simmons đã mua cửa hàng thuốc đầu tiên của ông với 5 ngàn đô la tiền mặt tự có và 95 ngàn đô la đi vay, và sau đó đã dùng đòn bẩy mua lại (LBOs) để mua lại các doanh nghiệp được định giá thấp. Ira Rennert đã phát hành các trái phiếu vô giá trị để mua lại các công ty đang gặp khó khăn.

3. Phát tài với số lượng hạn chế các vụ đầu tư

Nhiều tỷ phú đã tạo được khối tài sản đầu tiên nhờ một hoặc hai vụ đầu tư lớn. Họ dành phần lớn thời gian mới lập nghiệp để tập trung phát triển một doanh nghiệp hoặc một loại hình đầu tư.

Ví dụ, Simmons đã dành 13 năm tạo dựng chuỗi cửa hàng thuốc và sau này ông đã bán cho Eckerd Corporation với giá 50 triệu đô la vào năm 1973. Philip Anschutz đã giàu có nhờ mua được vùng đất có dầu mỏ gần biên giới Utah-Wyoming.

Albert Frere đã tích lũy được những tài sản quan trọng trong ngành công nghiệp thép của Bỉ trước khi mở công ty đầu tư. Peter Lim đã đầu tư vào Wilmar, một công ty sản xuất dầu palm, và đây là nguồn tạo ra sự giàu có ban đầu của ông.

4. Xây dựng kiến thức nền tảng về Tài chính, Kế toán hoặc Kinh tế

Hầu hết các tỷ phú tự thân đã từng học hoặc làm việc trong lĩnh vực tài chính. Các khóa học tại trường đại học dạy cho họ những kiến thức cơ bản về kinh doanh và những công việc đầu tiên cung cấp những hiểu biết sâu về hoạt động tài chính trong đời thực. Những kiến thức nền tảng này sau đó đã tạo nên triết lý và chiến lược đầu tư của họ.

Buffett đã học đầu tư vào giá trị từ Benjamin Graham, người được coi là tác giả của phương pháp này. Kerimov và Lim đều học kế toán và Hart bắt đầu hình thành khái niệm về công việc kinh doanh của ông khi đang hoàn thành chương trình MBA. Cả Lim và Buffett đều từng làm công việc môi giới cổ phiếu, trong khi Simmons làm chủ ngân hàng và chuyên gia phân tích ngân hàng.

5. Bắt đầu tạo dựng sự giàu có từ khi còn trẻ

Nhiều tỷ phú bắt đầu quá trình làm giàu ở độ tuổi 20, 30 hoặc sớm hơn.

Ví dụ, Buffett và Lim đã mua những cổ phần đầu tiên khi vừa mới 20 tuổi và Broad đã mua khối bất động sản đầu tiên ở tuổi 20. Klarman ở độ tuổi 25 khi mở Baupost Group, và Frere bắt đầu mua lại các công ty trong ngành thép ở tuổi 30.

6. Không bị nao núng bởi những thất bại

Các tỷ phú thỉnh thoảng cũng gặp thất bại. Nhưng thay vì rút lui khỏi thị trường thế giới , họ vẫn tiếp tục đầu tư.

Một ví dụ điển hình là Kerimov. Ông đã mất hàng tỷ đô la sau khi bán khối tài sản tại Nga để mua cổ phần của Morgan Stanley, Goldman Sachs, Deutsche Bank, và Credit Suisse vào năm 2008- năm khủng hoảng tài chính toàn cầu. Để khôi phục lại tài sản, ông đã vay để đầu tư vào việc khai mỏ, bất động sản và viễn thông. Vào tháng 3/2013, thu nhập ròng của ông đã đạt mức 7.5tỷ đô la.

7. Đa dạng hóa việc đầu tư sau khi đã phát tài

Nhiều tỷ phú có thể làm giàu được từ một hoặc hai nguông, nhưng họ đa dạng hóa khối tài sản của họ sau khi trở nên giàu có. Nhiều người tạo dựng các công ty cổ phần để phục vụ cho các hoạt động đầu tư rộng rãi trong khi những người khác kiếm được từ những lĩnh vực hạn chế hơn.

Giống như Buffett thành lập Berkshire Hathaway là công ty cổ phần với danh mục đầu tư đa dạng, Rennert đã mở Renco Group; Hart, Rank Group; và Simmons, Valhi. Một số người vẫn tập trung vào một số lĩnh vực chủ chốt nhưng được đa dạng hóa rộng hơn trước.

Ví dụ, Anschutz sở hữu Xanterra, cung cấp các dịch vụ khách sạn trong các công viên quốc gia, và AEG, một tập đoàn giải trí và thể thao, chuyên quản lý các địa điểm tổ chức hòa nhạc, các nghệ sỹ làm việc trong lĩnh vực âm nhạc, v.v.

Vậy một nhà đầu tư thông thường có thể học được gì từ những câu chuyện thành công này?

• Bắt đầu làm giàu từ những đồng lương đầu tiên của bạn, không kể bạn kiếm được từ một việc kinh doanh thêm hay là công việc đầu tiên.

• Đừng ngại mạo hiểm, nhất là khi bạn còn trẻ và có thời gian để khôi phục lại tài sản, nhưng hãy cấu trúc tài chính để bạn luôn có dòng tiền để trả nợ.

• Theo đuổi các cơ hội để thu lợi cao, nhận ra rằng những cơ hội đó có thể bắt nguồn từ những thương vụ kinh doanh đòi hỏi sự tham gia trực tiếp cũng như sự nguồn tài chính mạnh và khả năng lãnh đạo hoạt động chứ không chỉ đơn thuần là một vài vụ đầu tư điển hình vào một thị trường mở.

• Học những kiến thức cơ bản về tài chính để đánh giá các cơ hội và quản lý danh mục đầu tư của bạn. Hãy nhớ rằng bạn có khả năng hạn chế đối với việc theo dõi các khoản đầu tư của mình, vì vật hãy lựa chọn khôn ngoan (mua cổ phiếu có giá trị thấp).

• Đừng nao núng vì những thất bại, hãy áp dụng những gì đã học được vào lần đầu tư tiếp theo. Đa dạng hóa khi bạn đã giàu có để tránh tổn thất nặng nề và bất ngờ.

• Cuối cùng, dù bạn có dùng những bí quyết đã được các tỷ phú áp dụng rộng rãi này hay không, nếu cách đầu tư của bạn đã cho những hiệu quả lâu dài thì hãy cứ tiếp tục.
 
Theo Học Làm Giàu
 

Chủ Nhật, 23 tháng 11, 2014

Có sao không nếu bạn là một ông sếp hiền lành, rụt rè, bẽn lẽn?

Liệu có phải các nhà lãnh đạo đều vĩ đại, “siêu nhân” như mọi người vẫn mô tả không? Liệu bạn có cần phải trở thành một nhà diễn thuyết tài ba đầy lôi cuốn khi trở thành lãnh đạo? 

Khi được hỏi về nguyên nhân chủ yếu cho thành công của một công ty, nhiều nhà quản lý và sinh viên thường bị ấn tượng bởi những tên tuổi “vĩ đại”. Họ cho rằng các công ty leo lên vị trí thống lĩnh nhờ vào những tên tuổi xuất chúng như Sam Walton (Walmart), William Procter và James Gamble (P&G), William Boeing ,Walt Disney, Marriot,…

Những nhà lãnh đạo xuất chúng này được mô tả như biểu tượng của sự quyết tâm cao độ, vượt qua mội trở ngại trong kinh doanh, thu hút nhân tài về công ty. Đặc biệt, họ phải có tài diễn thuyết lôi kéo khiến nhân viên bị mê hoặc cùng hướng tới mục tiêu chung, dẫn dắt công ty vượt qua những thời khắc sống còn trong lịch sử. 

Điều đó có đúng không? Liệu có phải các nhà lãnh đạo đều vĩ đại, “siêu nhân” như mọi người vẫn mô tả không? Liệu bạn có cần phải trở thành một nhà diễn thuyết tài ba đầy lôi cuốn khi trở thành lãnh đạo không? 

Thực tế kiểm nghiệm cho thấy nhiều nhà lãnh đạo của các công ty hàng đầu trong lịch sử không phải là “người của quần chúng” như bạn nghĩ. 
 
Masaru Ibuka, nhà sáng lập Sony cũng là một người kín đáo và hay suy nghĩ. Hai nhà sáng lập của P&G thì được miêu tả là cứng nhắc, nghiêm nghị, đúng mực, kín đáo, thậm chí kín đáo đến mức lặng lẽ.

Bill Allen – một trong những CEO nổi tiếng nhất trong lịch sử Boeing, vốn là luật sư, có vẻ bề ngoài hiền lành, hơi rụt rè, bẽn lẽn, với những nụ cười không thường xuyên trên môi.
Bill Allen (trái) là nhà lãnh đạo điển hình có phong cách hướng nội

Hay bạn có biết William McKnight là ai không? Ông không có tên trong danh sách những doanh nhân nổi tiếng mà tạp chí Fortune bình chọn, cũng không có tên trong cuốn sách nổi tiếng về lịch sử các công ty. Thế nhưng, ông lại là lãnh đạo một trong những công ty nổi tiếng nhất lịch sử nước Mỹ: Công ty 3M. Thậm chí, ông còn là lãnh đạo trong suốt 52 năm, từ năm 1914 đến 1956, trải qua các cương vị từ giám đốc, CEO đến Chủ tịch. 

Ngay cả trong những cuốn tiểu sử của 3M, cũng chỉ có 1 đoạn duy nhất nói đến tính cách của McKnight: Ông là một người mềm mỏng, nhẹ nhàng. Còn trong cuốn sách về tiểu sử của mình, ông được mô tả là một người biết lắng nghe, khiêm tốn, hơi quá khiêm nhường, ăn nói nhẹ nhàng, lặng lẽ, suy tư và nghiêm túc. 

Nghe có vẻ không giống với những gì chúng ta thường tưởng tượng về một lãnh đạo tài ba. Không có những câu nói bất hủ, không có những tuyên ngôn “sẽ làm thay đổi cả thế giới”, không có những lời truyền cảm hứng đầy lôi cuốn. Mặc dù vậy, 3M vẫn nổi tiếng nhất nhì nước Mỹ, chỉ có McKnight thì không ai biết tới. Câu trả lời ở đây chỉ có thể là vì ông ấy không muốn thế. 

Trường hợp của McKnight hay Bill Allen cho thấy những nhà lãnh đạo hướng nội không phải là cá biệt. Quan trọng hơn, họ không cố gắng để tạo ra một phong cách lôi cuốn mà đặt ra một câu hỏi: “Nếu tôi không có được phong cách như thế thì sao?”.

Thật thú vị khi những nhà lãnh đạo nổi tiếng nhất trong lịch sử lại thắc mắc rằng có vấn đề gì khi họ không giỏi diễn thuyết hay lôi cuốn. Nó cho thấy, bạn chằng cần phải có phong cách như vậy để trở thành một lãnh đạo xuất sắc. 

Tất nhiên, không ai nói một phong cách lôi cuốn nhân viên là có hại. Đó chỉ đơn giản không phải là điều kiện bắt buộc. Hãy nghĩ rằng những yếu tố tạo nên sự lôi cuốn, khả năng diễn thuyết trước đám đông thuộc về di truyền, và không phải ai cũng có thể xuất sắc trong lĩnh vực này. 

Chúng ta cũng không phủ nhận vai trò của những nhà lãnh đạo trong những thời khắc sống còn của công ty. Và cũng không có công ty nào cứ mãi thành công với một nhà lãnh đạo thường thường bậc trung được. Tuy nhiên, sự xuất sắc cần được kế thừa, nếu không, nó có thể sẽ gây hại cho cả công ty.

Thực tế rất nhiều công ty có những nhà lãnh đạo có tầm ảnh hưởng lớn, như William Colgate hay Charles Pfizer. Họ lèo lái công ty đến thành công, nhưng các công ty này lại không thể duy trì được thành công đó và thường sa sút sau khi nhà lãnh đạo có tầm ảnh hưởng lớn qua đời. Một số, như trường hợp của Colgate hay Colombia Pictures, còn đánh mất thương hiệu vào tay người khác.

Bài đăng phổ biến