Hiển thị các bài đăng có nhãn Google. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Google. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 6 tháng 12, 2014

10 ông trùm vẫn thống soái ngành truyền thông tương lai

Công nghệ và nhu cầu thông tin của độc giả sẽ tạo ra những thế lực mới trong ngành truyền thông. Tuy nhiên, 10 thương hiệu dưới đây sẽ giữ vững vị trí của mình trong thập kỷ tới.

1. Thời báo New York (New York Times - NYT) 

Tòa soạn Thời báo New York.


Trong thập kỷ tới, NYT có thể không còn đơn thuần là một tờ báo in, nhưng thương hiệu này chắc chắn vẫn tồn tại, đơn giản vì cái tên và những sản phẩm của NYT có giá trị quá cao để có thể biến mất. Cơ cấu của NYT có thể khác, lĩnh vực tin tức có thể bị thu hẹp nhưng với công nghệ và những quyết định đúng đắn, tờ báo này sẽ trở thành một trong những thương hiệu tin tức quan trọng nhất trong thời gian dài.

2. Twitter
Twitter lấy biểu tượng là một chú chim.

Twitter là trang tin thời gian thực mà không công ty nào có thể làm ngơ. Thời gian tới, trang này có thể phục vụ cho việc đọc báo và xem xét các tin thời sự tốt hơn bao giờ hết, hỗ trợ tốt cho tin tức và chứng kiến sự kiện thông qua ảnh và video, bằng chứng là đã có rất nhiều tin xuất hiện trên Twitter đầu tiên, trước tất cả các trang khác.

3. Google
"Gã khổng lồ" tìm kiếm mang tên Google.

Google tiếp tục dẫn dắt thế giới trong việc quản lý, tổ chức và tìm kiếm thông tin. Trang Google News trông có vẻ nhàm chán nhưng lại là một sản phẩm khổng lồ cho lượng độc giả rộng lớn. Trong thập kỷ tới, Google dường như sẽ phát triển thêm cho Google News, ví như kết hợp với mạng xã hội Google+.

4. Facebook
CEO của Facebook, Mark Zuckerberg.

Những phản hồi trên trang Facebook trở thành một trong những nền tảng cung cấp thông tin quan trọng nhất trên thế giới, và điều này sẽ tiếp tục phát triển, đặc biệt cho các tin tức mang tính địa phương khi các phương tiện truyền thông cơ sở trở nên nhạt nhòa.

5. Univision
CEO Randy Falco của Univision

Mạng và tin tức trên TV địa phương sẽ thay đổi rõ rệt trong thập kỷ tới. Nhưng Univision sẽ tiếp tục tồn tại và mở rộng quy mô cũng như tầm ảnh hưởng của mình khi lượng người nói tiếng Tây Ban Nha tại Mỹ ngày càng tăng, một điều kiện vô cùng thuận lợi để hãng tin này phát triển.

6. Bloomberg
CEO Michael Bloomberg của Bloomberg, hiện đang giữ chức Thị trưởng New York

Trang tin chuyên tài chính sẽ không đánh mất vị trí của mình khi họ vẫn tiếp tục viết về chuyên ngành này tốt hơn bất kỳ một công ty truyền thông nào khác. Việc Bloomberg phải làm bây giờ chỉ là đảm bảo vị trí hàng đầu của mình lúc này và đưa tin càng nhanh càng tốt.

7. Al Jazeera
"Căn cứ tin tức" Al Jazeera.

Hầu hết người Mỹ vẫn chưa thể thăm quan tổng hành dinh của Al Jazeera tại Qatar dù họ có muốn đi chăng nữa. Trung Đông sẽ không biến mất khi còn đóng vai trò tối quan trọng trong các tin tức về xung đột cũng như phát triển. Tầm ảnh hưởng của hãng tin Al Jazeera cũng lớn như quy mô của họ sẽ còn tiếp tục được mở rộng, đặc biệt khi TV internet đang trở thành hiện thực.

8. Yahoo
Bên ngoài tổng hành dinh của Yahoo.

Yahoo vẫn đang là một trong những cổng thông tin lớn nhất thế giới, và sẽ tiếp tục giữ vai trò thương hiệu tin tức quan trọng. Gần đây, đối thủ của Yahoo là AOL bộc lộ tham vọng lớn hơn nhằm tạo ra và nắm giữ những nhãn hiệu tốt hơn, nhưng Yahoo có vẻ chưa bị tác động. Thập kỷ tới sẽ rất thú vị khi Yahoo có thể dần mờ nhạt do lượng người dùng dịch vụ tìm kiếm và email của họ thay đổi nhưng một điều chắc chắn đây vẫn là nơi hàng triệu người cập nhật tin tức.

9. CNN
Ảnh chụp màn hình trang tin CNN.

CNN không thực sự nắm giữ cái "nhất" nào trong ngành truyền thông tin tức, nhưng họ luôn ổn định, dễ tiếp cận và luôn luôn đáng tin. Đối với hàng triệu người trên thế giới, đó là những tiêu chí hàng đầu khi lựa chọn tin tức. Cái tên CNN đồng nghĩa với chất lượng tin tức được đánh giá cao và trong tương lai mọi chuyện sẽ vẫn như vậy.

10. Politico
Ảnh chụp màn hình trang tin Politico.

Có thể trong thập kỷ tới tờ Washington không còn ra các ấn phẩm báo in, nhưng Politico vẫn khẳng định mình là tên tuổi quyền lực trong ngành truyền thông.
Theo Dân Trí

"Miễn phí" mà vẫn kiếm nhiều tiền

Google là một trong những công ty sinh lời nhất nước Mỹ. Họ đã kiếm được rất nhiều tiền mà không bắt người khác phải trả tiền. Miễn phí nhưng vẫn kiếm đủ để căn bản tạo nên một nền kinh tế với quy mô của một quốc gia khá lớn. Chuyện này xảy ra như thế nào và sẽ đi về đâu?


Về tác giả

Chris Anderson sinh năm 1961, hiện đang sinh sống ở California, USA. Ông từng làm việc cho các tạp chí nổi tiếng như Nature, Science và The Economist.
Năm 2001, ông lãnh đạo tờ Wired - một tạp chí đã giành nhiều giải thưởng lớn ở Hoa Kỳ. Năm 2006, ông xuất bản cuốn “Cái đuôi dài” (Long Tail) - best seller thời điểm ấy.
Năm 2009, ông được đưa vào danh sách 50 nhà tư tưởng lớn của thế giới, cùng với những nhân vật như Steve Johs, Jack Welch, Bill Gate, Paul Krugman, Joseph Stiglitz, Michael Porter, Daniel Goleman, Thomas Freedman…

Nội dung chính
LỜI GIỚI THIỆU
Với chiếc máy tính xách tay, ở quán cafe wifi, ta có thể ngồi làm việc một cách thoải mái. Mọi cái ta thực hiện trên máy tính từ thư điện tử cho đến lời nhắn tin trên Twitter, chạy chương trình duyệt Firefox, Google… đều hoàn toàn miễn phí (trừ café).
Miễn phí của thế kỷ XXI khác với thế kỷ XX như thế nào? Miễn phí không có gì mới, nhưng nó đang thay đổi, phải thấu hiểu miễn phí kiểu mới để chi phối thị trường ngày mai.

SỰ RA ĐỜI CỦA MIỄN PHÍ
Cuối thế kỷ XIX, Pearle Wait chiết xuất chất Glatin từ thịt và xương để tạo ra một gia vị thực phẩm mới rất hấp dẫn là Joll_0. Nhưng ông không thể bán được hàng vì sản phẩm còn rất xa lạ với người tiêu dùng. Cuối cùng ông phải bán nhãn hiệu này cho Frank Woodward với giá 450 USD. Nhưng rồi tình hình thật ảm đảm, hàng tồn kho ngày càng nhiều, Woodward nản chí, bán lại cho Nico với giá 35 USD nhưng Nico từ chối.

Năm 1902, Woodward cùng người phụ tá của mình thử cách khác: Trước hết họ đăng một mẫu quảng cáo trên Ladies’Home journal với giá 336 USD, rồi in hàng ngàn quyển sách mỏng giới thiệu Joll_0 với những công thức chế biến thực phẩm phát miễn phí cho các bà nội trợ.

Đến 1904 chiến dịch bán hàng đã thành công rực rỡ, doanh số đạt đến 1 triệu USD. Woodward hiểu rằng “miễn phí là một từ có quyền năng siêu việt”, miễn phí không có nghĩa là phi lợi nhuận mà có nghĩa rằng sản phẩm phải đi trên con đường gián tiếp đến với thị trường.

King Gillette

Cùng khoảng thời gian đó, tại Boston, một ngày nọ, King Gillette đang cạo râu bằng con dao xếp đã mòn đến mức không còn mài được nữa, ông nảy ra ý tưởng làm lưỡi dao bằng một băng kim loại mỏng, để thay vì phải mất thời gian mài dao, người ta chỉ cần vứt đi khi dao cùn. Lưỡi dao cạo dùng xong rồi bỏ đã ra đời từ đó.

Trong năm đầu 1903, Gillette chỉ bán được tổng cộng 51 con dao và 168 lưỡi dao. Những năm tiếp theo, Gillette đã thử mọi mẹo marketing, như: cho in hình mình trên bao bì, bán hàng triệu dao cạo cho quân đội với giá rẻ, bán từng lô dao cạo cho ngân hàng để họ tặng khách hàng, dao cạo được bán kèm với mọi thứ từ kẹo cao su đến các gói café, trà, hương liệu, thậm chí phát không cho khách hàng.
Bằng những cách ấy, Gillette đã tạo ra nhu cầu lưỡi dao cạo dùng xong rồi bỏ. Gillette đã bán dao cạo với giá rất rẻ, nhưng lưỡi dao thì có giá tương đối cao.

Sau này, người ta áp dụng mô hình của Gillette trong tất cả các ngành: cho không điện thoại di động, thu phí sử dụng hàng tháng; bán máy chơi game với giá rẻ nhưng bán các trò chơi với giá đắt; lắp đặt các máy pha café tại các văn phòng không thu phí để rồi bán café gói cho các chủ văn phòng.

Vào buổi bình minh của thế kỷ XX, miễn phí tiếp thêm sức sống cho cuộc cách mạng của người tiêu dùng. Miễn phí là lời hiệu triệu của những nhà tiếp thị hiện đại và luôn được người tiêu dùng đáp lại.

Miễn phí của thế kỷ XXI

Miễn phí của thế kỷ XXI không phải là thứ mẹo, mà là một khả năng mới phi thường làm giá thành của sản phẩm và dịch vụ giảm xuống gần bằng không. Hình thức miễn phí dựa trên kinh tế học của những con số nhị phân chứ không phải là nguyên tử. Đó là phẩm chất độc nhất vô nhị của thời đại số khi mà một thứ nào đó trở thành phần mềm thì nó không tránh khỏi trở thành miễn phí.

MIỄN PHÍ LÀ GÌ?

Miễn phí nhập môn
Miễn phí gốc là một từ ghép trong tiếng Latin bao gồm từ Liber (tự do) và Grastis (để cảm ơn). Ý nghĩa “tự do” tích cực đôi lúc cũng gây ra sự mơ hồ nên phải dùng từ Gratis để nhấn mạnh thực sự miễn phí. Nhưng rồi kết cục người ta lại dùng một từ free duy nhất. Từ free, miễn phí hay tự do có gốc từ tiếng Anh cổ freon, freogan (tự do, tình yêu). Như vậy, free - miễn phí xuất phát từ ý niệm xã hội của sự giải thoát, cả khỏi ách nô lệ lẫn chi phí.

Muôn hình vạn trạng của chi phí

"Miễn phí” có rất nhiều ý nghĩa. Đôi lúc “free” không thực sự miễn phí: mua một tặng một, miễn phí giao hàng (có nghĩa phí giao hàng đã tính trong giá bán), hàng mẫu miễn phí (free sample), dùng thử miễn phí (free trial) - tạo tâm lý mắc nợ, khuyến khích người tiêu dùng mua sản phẩm nguyên giá…
Đôi khi miễn phí thực sự là miễn phí và đây là mô hình mới, hầu hết số này có tính trực tuyến, nơi mà kinh tế số thống trị với mức phí tiến dần bằng không.

Các dạng miễn phí nói trên đều chỉ là biến thiên của một mô hình chung: điều chuyển tiền vòng quanh từ sản phẩm này sang sản phẩm khác, từ người này sang người khác, giữa hiện tại và tương lai, hoặc vào thị trường phí tiền tệ rồi trở ra. Các nhà kinh tế học gọi chúng là “hỗ trợ qua lại”.

Cả thế gian đều hỗ trợ qua lại

Hỗ trợ qua lại là tinh thần của thành ngữ “Không có gì là miễn phí” (There’s no such thing as a free luch – đừng hòng có bữa trưa mà không phải trả tiền). Điều đó có nghĩa là cách này hay cách khác sẽ có người trả tiền cho bữa trưa.
Hỗ trợ qua lại có thể diễn ra theo một vài hình thức khác nhau:
- Sản phẩm có chi phí bù cho sản phẩm miễn phí.
- Trả tiền sau, tài trợ cho miễn phí hiện tại, tiền sử dụng điện thoại hàng tháng trả cho chiếc điện thoại miễn phí ban đầu.
- Những người trả tiền, tài trợ cho những người miễn phí, đàn ông mua vé vào hộp đêm, có thể dẫn theo phụ nữ không phải trả tiền. Người lớn dẫn trẻ em vào vườn bách thú miễn phí nhưng rồi người lớn phải trả tiền cho những trò chơi của trẻ…

Mô hình miễn phí rơi vào một trong bốn loại sau:

1/ Hỗ trợ chéo trực tiếp
Cho không sản phẩm hoặc dịch vụ để khuếch trương và thu lợi các sản phẩm và dịch vụ khác (ví dụ về King Gillette, về điện thoại miễn phí).
2/ Thị trường ba bên
Đài phát thanh, truyền hình phủ sóng miễn phí, mạng internet, các đối tượng khách hàng dùng các phương tiện đó miễn phí nhưng các nhà quảng cáo sẽ trả tiền cho mọi thứ. Người tiêu dùng có cảm giác mặt hàng chính yếu mình đang quan tâm là miễn phí, nhưng cuối cùng họ cũng sẽ mất tiền một cách gián tiếp, qua mức giá sản phẩm cao hơn.
3/ Miễn phí giá cao
Năm 2009, Chris Anderson được đưa vào danh sách 50 nhà tư tưởng lớn của thế giới, cùng với những nhân vật như Steve Johs, Jack Welch, Bill Gate, Paul Krugman, Joseph Stiglitz, Michael Porter, Daniel Goleman, Thomas Freedman…

Với sản phẩm số, 5% khách hàng sẽ trả tiền cho 95% khách hàng còn lại, điều này có nghĩa là mỗi khách hàng trả tiền sử dụng phiên bản giá cao đầy đủ chức năng thì mười chín người khác được sử dụng phiên bản miễn phí ít chức năng hơn.

4/ Thị trường phi tiền tệ: Dạng này có vài hình thức:

Nền kinh tế quà tặng: Mười hai triệu bài viết trên wikipedia, hàng triệu món đồ đã qua sử dụng được rao trên Freecyete chỉ để cho tặng, bạn cho Google thông tin khi bạn sở hữu một website mở, bạn cho một kẻ vô gia cư những vật dụng mà anh ta nhặt từ thùng rác nhà bạn… Phương thức phân phối với chi phí bằng không đã biến việc chia sẻ trở thành một ngành kinh doanh, theo đó bạn sẽ được những giá trị như niềm vui, sự thỏa mãn, danh tiếng, và internet cung cấp một nền tảng cho phép hành động của từng cá nhân có thể gây ảnh hưởng toàn cầu.

Đổi công: Mỗi lần bạn tìm kiếm trên Google, bạn đã giúp Google cải thiện các thuật toán nhằm mục tiêu quảng cáo của họ. Dù bạn có nhận thức được hay không, bạn đã trả bằng công lao động của mình cho một thứ hàng miễn phí.

Vi phạm bản quyền: Âm nhạc trực tuyến thể hiện bằng việc chuyển đổi nhạc sang dạng số và chia sẻ chúng qua mạng, chi phí cho phổ biến âm nhạc thực sự chạm đáy, mọi biện pháp chống lại sự vi phạm bản quyền đã chào thua. Người nghệ sĩ phải chấp nhận thực tế đó, đối với họ, âm nhạc như một phương tiện tiếp thị, là niềm vui, xây dựng hình ảnh và danh tiếng.

Ba mức giá: Hầu như ta chỉ nói về hai mức giá trị: có phí và miễn phí, nhưng còn một mức giá thứ ba thấp hơn cả miễn phí, đó là mức giá âm: bạn được trả tiền để sử dụng một sản phẩm hoặc dịch vụ thay vì ngược lại. Trong hầu hết các trường hợp thì trước sau gì rồi bạn cũng bỏ tiền ra. Ví dụ: phần tiền được thưởng sau khi thanh toán đầy đủ tạo ra một tâm lý hoàn toàn khác so với việc phải trả một số tiền ít hơn ngay từ đầu.

LỊCH SỬ MIỄN PHÍ
Số 0
Khi người Ấn Độ phát minh ra môn đại số, họ mở rộng thêm số âm và số 0 từ thế kỷ IX. Từ “zero” trong ngôn ngữ Ấn là Sunya, có nghĩa là trống rỗng, người Ả Rập chuyển thành sifr, phương Tây Latin hóa nó thành zephirus, chính là gốc của từ zero.

Rắc rối của miễn phí

Đến năm 900, đã có đủ ký hiệu lẫn cơ sở đại số cho khái niệm “không” thì nó đã cùng tồn tại song song với khái niệm “economics”. Từ nguồn gốc Hy Lạp cổ, oikos (nhà) và nomos (tập quán hay luật lệ) do đó nó có ý nghĩa là “luật gia đình” và miễn phí luôn là luật trong nhà.

Từ khi nền kinh tế trên cơ sở tiền tệ hình thành, các giao dịch hầu như không liên quan đến giá cả mà dựa trên sự hào phóng, tin tưởng, thiện chí giữa các láng giềng và các nhóm xã hội. Vào thế kỷ XVII, khái niệm thuế lũy tiến ra đời, việc thành lập các thể chế nhà nước tạo ra một dạng miễn phí đặc biệt: bạn có thể không trả phí cho dịch vụ của chính quyền, nhưng bạn sẽ chẳng bao giờ biết chính xác bao nhiêu tiền thuế của mình được dùng để phục vụ trực tiếp cho bạn.

Bữa trưa miễn phí đầu tiên

Đến cuối thế kỷ XIX, nền kinh tế thị trường đã được thiết lập vững vàng, đồng tiền đã chứng tỏ mình là xúc tác cho tăng trưởng và là chìa khóa để đến với thịnh vượng. Đến thời kỳ mà King Gillette và Pearle Wait tạo dựng được cả gia sản từ miễn phí, khách hàng đã quen thuộc với câu “làm gì có bữa trưa miễn phí”.

Hàng mẫu, quà tặng và dùng thử

Vào đầu thế kỷ XX, miễn phí đã trở thành một mẹo bán hàng. Xà phòng Babbitt’s Soap trở nên nổi tiếng toàn quốc nhờ các chiến dịch quảng cáo và khuyến mãi, trong đó có đợt phân phối hàng dùng thử miễn phí trên quy mô lớn đầu tiên.

Free như một vũ khí cạnh tranh

Ngày nay, chúng ta biết rằng cách hủy diệt nhất để xâm nhập thị trường là phá hủy tính kinh tế của những mô hình kinh doanh đang tồn tại. Chẳng hạn không tính tiền sản phẩm đang là nguồn lợi nhuận chủ yếu của đối thủ.

Vụ đánh cược sai lầm của Ehrlick

Ý tưởng hàng hóa sẽ trở thành rẻ hơn chứ không đắt hơn theo thời gian là ngược với trực giác. Thực phẩm có thể tái tạo chứ khoáng sản thì không, chúng ta khai quặng càng nhiều thì còn lại càng ít, đó là điển hình của khan hiếm trong lúc dân số thế giới ngày càng gia tăng. Nhưng tháng 9/1980, Paul Ehrlick, một nhà sinh học dân số, và Julian Simon, một nhà kinh tế học, đã đánh cược với nhau một cách công khai với số tiền là 10.000 USD.

Simon tuyên bố: “Giá của các nguyên liệu khô mà nhà nước không kiểm soát sẽ không tăng trong dài hạn”. Ehrlick chọn năm kim loại là đồng, chrome, nickel, thiếc và tungsten. Mười năm sau, giá các kim loại đó đã giảm hơn một nửa - Simon đã thắng cược. Vì sao Simon thắng cược? Vì ông là một nhà kinh tế tài ba, hiểu được tác động của hàng hóa thay thế: Nếu một mặt hàng trở nên quá khan hiếm và đắt đỏ, đó sẽ là động cơ để tìm kiếm mặt hàng thay thế có nhiều hơn. Óc sáng tạo của loài người và khả năng rút kinh nghiệm trong khoa học và công nghệ sẽ có xu hướng tạo ra các nguồn lực mới nhanh hơn tốc độ sử dụng.

Mù lòa trước dư dả

Điều hiển nhiên là Simon có nhiều cơ hội thắng cuộc hơn. Nhưng khuynh hướng để ý đến những thứ khan hiếm hơn là thừa thãi xuất hiện. Ví dụ tiêu biểu nhất là plastic: người ta bán thế hệ chất dẻo plastic đầu tiên không phải như chất dùng xong rồi bỏ, nhưng thế hệ thứ hai của plastic với Vinyl và Polystyrene thì rẻ đến nỗi người ta có thể dùng xong rồi vứt đi mà không phải bận tâm chút nào.
Sau thập niên 70, thái độ đối với siêu thừa thãi như vậy đã bắt đầu thay đổi. Chi phí xử lý môi trường phải trả cho văn hóa tiêu dùng một lần rồi bỏ đã trở nên rõ ràng hơn. Cho nên, một thế hệ mới bắt đầu công việc tái chế đồ bỏ đi.

Sự thừa thãi lên ngôi

Câu chuyện của thế kỷ XX là câu chuyện sự thay đổi ghê gớm về mặt xã hội và kinh tế do sự dư dả dẫn dắt. Tương tự như việc nước luôn luôn chảy xuôi, tính kinh tế chảy về phía có sự dư thừa. Những công ty tìm kiếm lợi nhuận phải ngược dòng tìm kiếm sự khan hiếm mới, điều đó Tim O’Reilly gọi là “ định luật bảo toàn mức lợi nhuận hấp dẫn”. Ngày nay, chỉ còn 32% công ty chế tạo ra sản phẩm cầm nắm được. Các công ty còn lại chuyển qua cung cấp dịch vụ, tạo ra sản phẩm sở hữu trí tuệ, tạo ra thị trường cho sản phẩm của những người khác.

Một vài thập kỷ trước, giá trị lớn nhất nằm trong sản xuất. Sau đó toàn cầu hóa nằm trong sản xuất. Ngày nay mức lợi nhuận cao nhất thường thấy ở những nơi chất xám kết hợp với vật chất. Sự kết hợp giữa kiến thức, kỹ năng và tư duy trừu tượng là điều làm nên một người lao động tri thức có hiệu quả.

KHOA HỌC TÂM LÝ VỀ MIỄN PHÍ

Nếu có thứ gì đó trước đây phải mất tiền mua, còn nay thì không, chúng ta có xu hướng đồng hóa hiện tượng đó với suy giảm chất lượng. Nhưng đối với những thứ chưa bao giờ phải mất tiền mua, chúng ta không suy nghĩ tương tự.

Kẽ hở tí hon

Trong hầu hết các trường hợp, chỉ một xu - một mức giá thường được coi như vô nghĩa - cũng có thể ngăn đại đa số người tiêu dùng lại. Vì bộ não của chúng ta được thiết kế để báo động mỗi khi chúng ta gặp phải một cái giá, lời báo động là “có đáng không nhỉ?”. Và chúng ta có xu hướng lựa chọn những thứ đòi hỏi ít phải suy nghĩ nhất. Theo cách nhìn của khách hàng, giữa rẻ và miễn phí có một khoảng cách vô cùng lớn.

Giá của miễn phí

Hầu hết các giao dịch có ưu điểm lẫn nhược điểm, nhưng khi có thứ gì cung cấp miễn phí, chúng ta sẽ quên mất nhược điểm của nó. Đó là vì người ta có bản chất sợ thiệt thòi. Khi nhận được cái gì đó miễn phí, bạn không hề phải đối diện với một khả năng bị mất mát nào cả, nhưng khi bạn chấp nhận một thứ không miễn phí, xác xuất chịu mất mát xuất hiện.

Không chi phí, không cam kết

Miễn phí có thể khuyến khích thói tham ăn, vơ vét, tiêu dùng thiếu suy nghĩ, tội lỗi và lòng tham. Chúng ta lấy đồ vì chúng có sẵn đó chứ không phải vì chúng ta cần. Cứ áp một mức giá, dù rất thấp chăng nữa, cũng sẽ khuyến khích hành vi có trách nhiệm hơn. Miễn phí là cách tốt nhất để tối đa hóa số người có thể tiếp cận với sản phẩm, dịch vụ, nhưng không phải đó là cái đích cuối cùng bạn nhắm tới, nó có thể gây ảnh hưởng tiêu cực. Như một công cụ mạnh khác, miễn phí phải được sử dụng cẩn thận bằng không thì lợi bất cập hại.

Phương trình thời gian / tiền bạc

Tại một thời điểm nào đó trong đời, bạn có thể tỉnh dậy và nhận ra rằng bạn có nhiều tiền hơn thời gian, rồi bạn cũng nhận ra rằng mình cần bắt đầu làm khác đi. Bạn trả tiền cho thứ gì đó để giảm bớt rủi ro vì giá cả đi liền với đảm bảo, trong khi miễn phí thì không.

Miễn phí lại có tác dụng tuyệt vời khi đi cùng với trả tiền. Nó có chỗ cho những tâm lý thay đổi của những khách hàng khác nhau, từ những người có nhiều tiền hơn thời gian cho đến những người nhiều thời gian hơn tiền bạc.

Đầu óc vi phạm bản quyền

Vi phạm bản quyền là một hình thức trộm cắp đặc biệt, thường bị những kẻ vi phạm cũng như những người tiêu thụ hàng hóa vi phạm bản quyền coi hành vi vi phạm nhưng không có nạn nhân.

Lập luận của họ là hàng hóa vi phạm hiếm khi thay thế được hàng hóa hợp pháp. Thay vào đó, nó cho phép sản phẩm tiếp cận với những người không đủ tiền mua hàng hợp pháp hoặc có tiền nhưng không chịu mua hàng hóa hợp pháp.

Cliff Harris tạo ra các trò chơi điện tử với mức giá 20 dollar nhưng lập tức các trò chơi của ông vi phạm bản quyền. Ông nghiên cứu, tìm hiểu và nhận ra rằng, người sử dụng đánh giá sản phẩm của ông thấp hơn ông tưởng, ông nghĩ mọi nỗ lực đảo ngược vấn đề là vô ích. Harris giảm giá các trò chơi của mình còn một nửa, nâng cao chất lượng trò chơi, làm gian hàng trên mạng của mình dễ sử dụng hơn để cạnh tranh với miễn phí.

MIỄN PHÍ KỸ THUẬT SỐ

Quá rẻ nên chẳng đáng quan tâm

Vào năm 1954, Lewis Strauss dự đoán những điều vĩ đại sẽ đến: bệnh tật sẽ bị khuất phục, con người di chuyển vượt đại dương, du hành trên không với vận tốc khổng lồ, chúng ta sẽ dùng điện với giá rất rẻ đến nỗi không phải mất công đo đếm… sẽ thay đổi thế giới .

Và thực sự khi khoa học và kỹ thuật bùng nổ sau chiến tranh, kinh tế tăng trưởng với mức độ chưa từng thấy, nhưng điện năng thì không rẻ đến mức có thể bỏ qua không cần đo đếm. Ngày nay có 3 công nghệ khác cũng có ý nghĩa đối với nền kinh tế với mức độ tương đương điện năng, đó năng lực xử lý của máy tính, lưu trữ kỹ thuật số và băng thông. Cả ba đang ngày càng rẻ đến nỗi người ta không phải bận tâm.

Đón rẻ

Khi chi phí mặt hàng bạn sản xuất giảm đều đặn, bạn có thể áp dụng cơ chế giá mà thoạt nhìn có thể coi là điên rồ. Thay vì bán nó với mức phí ngày hôm nay, bạn có thể bán nó với mức phí của ngày mai. Kevin Kelly gọi đó là “đón rẻ”. Chẳng hạn đầu thập niên 1960, hãng Fairchild Semiconductor đang bán những con transistor đầu tiên với mức giá 100 USD. Họ hiểu rằng sản lượng tăng chi phí sẽ giảm nhanh chóng, họ dùng chiến thuật đi trước triển vọng giảm giá, họ đặt mục tiêu với mức giá 1,05 USD, sau đó 50 cent mà vẫn thu được lợi nhuận, họ bảo “chúng tôi bán vào tương lai”.

Tại sao định luật Moore phù hợp với thực tế?

Hầu hết các quy trình sản xuất công nghiệp ngày càng cải thiện và diễn tiếp theo hiện ứng được biết đến với tên gọi là đường học tập (Learning curve), nhưng chỉ các quy trình đặt nền tảng trên chất bán dẫn là cải thiện nhanh hơn và duy trì lâu hơn. Về mặt kinh tế, đầu vào của sản phẩm bán dẫn hầu như tuyệt đối là trí tuệ thay vì vật chất. Ý tưởng là thứ hàng hóa thừa thãi sau cùng, có thể phát tán với mức chi phí biên bằng không, ý tưởng tự nó muốn được truyền bá rộng rãi, làm sung túc thêm cho mọi thứ khi nó chạm đến. Bản quyền được đặt ra như nỗ lực ngăn cản dòng chảy tự nhiên của ý tưởng, nhưng rồi bằng phát minh sáng chế cũng hết hạn, ý tưởng không thể che giấu mãi mãi.

Sản phẩm được tạo ra từ ý tưởng thay vì từ vật chất rẻ đi nhanh chóng hơn. Đây là gốc rễ của sự thừa thãi, điều dẫn tới miễn phí trong thế giới kỹ thuật số mà ngày nay chúng ta nói ngắn gọn là định luật Moore.

Định luật Mead

Gordon Moore nói rằng: “Nếu năng lực của máy tính ở một mức giá nhất định tăng gấp đôi sau mỗi hai năm, thì chi phí cho mỗi đơn vị năng lực tính toán phải giảm đi một nửa trong cùng khoảng thời gian đó”. Giống như Moore, Mead thấy rằng việc năng lực tăng gấp đôi sau mỗi mười tám tháng sẽ còn tiếp tục lâu dài vì nó được dẫn dắt bởi đường học hỏi và đường kinh nghiệm mà ông gọi là “đường kinh nghiệm kép”. Điều mà Mead nhận ra là hiệu ứng kinh tế này mang theo nó một mệnh lệnh tinh thần. Nếu Transistor đã trở nên quá rẻ, ông bảo các lập trình viên hãy phí phạm nó đi.

Con chuột cất tiếng rống

Kỹ sư Alan Kay phát triển một mẫu máy tính - Dynabook - có thể tận dụng các mạch silicon làm những chuyện vui vẻ trên màn hình như vẽ, định hướng con trỏ bằng chuột… Điều Kay nhận ra là làm cho công nghệ thật rẻ, dễ sử dụng và phổ biến để ai cũng có thể dùng được, để rồi nó có mặt khắp thế giới. Nhờ phí phạm transistor như vậy mà thế giới đã thay đổi.

Sắt và kính

Câu chuyện về chất bán dẫn đã trở thành huyền thoại của nền kinh tế kỹ thuật số. Sự thật là hai công nghệ có liên quan là không gian lưu trữ và băng thông đã vượt qua nó trong cuộc đua xuống đáy. Chiếc đĩa lưu trữ làm bằng sắt có thể giữ được từ trường mạnh, và ngành khoa học trung tâm ở đây là quang học. Tuy nhiên, tỷ lệ chất xám trên vật chất là mức cao, do đó các sáng kiến đổi mới thường xuất hiện để tái khởi động chu kỳ cải tiến kỹ thuật.

Điều thừa thãi có thể tạo ra

Băng thông rẻ đến mức không phải bận tâm nữa mang lại cho chúng ta Youtube. Nó nhanh chóng cách mạng hóa ngành truyền thông. Không gian lưu trữ rẻ đến mức không còn đo đếm đã mang đến cho chúng ta Gmail với dung lượng hộp thư không giới hạn, chưa nói đến Tivo, Flicks, Myspace và Ipod. Apple gia tăng dung lượng của đĩa cứng mà vẫn giữ nguyên giá và tốc độ nhanh hơn cho nhu cầu lưu trữ âm nhạc. Toshiba sẽ sớm sản xuất loại đĩa cứng cỡ 1,8inch lưu trữ được 5 gigabyte.
Giờ thì sự kết hợp cả ba công nghệ - xử lý, lưu trữ và băng thông - đã tạo ra web, sự thừa thãi đã nhân gấp bội.

“THÔNG TIN MUỐN TRỞ THÀNH MIỄN PHÍ”

Lịch sử một tuyên ngôn của thời đại số Steven Levy liệt kê bảy “triết lý của hacker”:
1. Việc tiếp cận với máy tính - và mọi thứ có thể dạy bạn chút gì đó về cách thức vận hành của thế giới - là không hạn chế và toàn diện.
2. Luôn luôn tuân theo niềm thôi thúc tự mình làm lấy!
3. Mọi thông tin cần được tự do.
4. Nghi ngờ quyền lực - cổ vũ cho phân quyền.
5. Đánh giá một hacker dựa trên khả năng thâm nhập như bằng cấp, tuổi tác, chủng tộc hoặc địa vị.
6. Chúng ta có thể tạo ra nghệ thuật và cái đẹp từ một chiếc máy tính.
7. Máy tính có thể làm cuộc đời ta tốt đẹp hơn.

CẠNH TRANH VỚI MIỄN PHÍ

Ngày 3/3/1975, Bill Gates của Microsoft viết “Thư ngỏ gửi những kẻ đánh cắp phần mềm”. Ông cảnh báo nếu việc này còn tiếp diễn, ông sẽ không thể viết phần mềm mới và mọi người sẽ cùng chịu thiệt.
Nhưng việc sao chép bất hợp pháp không bao giờ biến mất hoàn toàn, khi phần mềm chuyển từ các đĩa mềm khó sao chép sang CD, việc sao chép bất hợp pháp bùng nổ. Microsoft thêm mã an ninh trên gói sản phẩm với tem có hình ảnh ba chiều, kiện tụng, tuyên truyền đánh động, ngoại giao. Nhưng tình hình vẫn không thể kiểm soát nổi, nhất là ở các nước đang phát triển. Gates nói: “Dù sao thì một ngày nào đó họ sẽ trả, và khi họ còn ăn cắp thì chúng tôi muốn họ ăn cắp phần mềm của mình, họ sẽ trở nên nghiện và rồi chúng tôi sẽ tìm ra cách nào đó thu tiền vào thập kỷ tới”.

Dùng thử miễn phí

Trong thập niên 1990, các đối thủ cạnh tranh với Microsoft như WordPerfect office và Lotus Smartsuite chỉ yêu cầu các nhà sản xuất máy tính cá nhân phải trả một mức phí rất thấp để phần mềm của họ được đóng gói bán chung với máy tính mới. Gates quyết định đáp trả. Microsoft phát triển phiên bản giảm bớt tính năng của bộ office, được gọi là Microsoft works, và chỉ thu 10 dollar từ nhà sản xuất máy tính để bán kèm với bộ máy tính mới. Mức giá này cạnh tranh có hiệu quả, bởi vì works tương thích về định dạng file với bộ office đầy đủ, đây là cách để giữ người tiêu dùng trong phạm vi ảnh hưởng của Microsoftt. Công ty nhanh chóng phát triển trình duyệt miễn phí của riêng mình, internet explorer và gộp nó vào cùng mọi phiên bản hệ điều hành của công ty. Chiến lược này đã đạt kết quả mong muốn. Các viên chức chống độc quyền đã tố cáo công ty đã “trói” một sản phẩm miễn phí vào một sản phẩm mới trả tiền. Microsoft đã phải trả giá bằng hàng thập kỷ bị kiện cáo độc quyền và phải nộp phạt bởi hành vi chống lại tự do cạnh tranh.

Cuộc tấn công của chim cánh cụt

Lim Torvalds thực hiện một dự án khiêm tốn để tạo ra một biến thể đơn giản của hệ điều hành Unix mà ông gọi là Linux. Nhờ có mã lệnh tốt, tính cách lôi cuốn và kỹ năng tổ chức của người đứng đầu và quan trọng nhất là web đã trở thành phương tiện cho hợp tác toàn cầu, Linux đã cất cánh.
Từ cuối những năm 1990, trong nội bộ Microsofl thì Linux chỉ được coi như thêm một con muỗi quấy rầy nữa, không nghiêm trọng đến mức phải điều chỉnh chiến lược. Tại sao Microsofl phải mất rất nhiều thời gian mới nhận ra mối đe dọa? Năm giai đoạn đau đớn được Elisabeth Kybles-Ross kể như sau:

Giai đoạn 1: Chối bỏ

Microsoft làm gì trong thập kỷ đầu tiên của Linux? Chủ yếu là hy vọng hệ điều hành miễn phí này sẽ biến mất như hầu hết các phần mềm miễn phí trước đó. Microsoft thấy bối rối là tại sao khách hàng lại muốn dùng phần mềm miễn phí và rước mọi rắc rối đi cùng sản phẩm đó? Những người điều hành Microsoft coi nguồn mở chỉ là một thứ bị thổi phồng quá đáng. Các dự án phức tạp trong tương lai sẽ đòi hỏi các nhóm lớn và vốn đầu tư lớn mà đối thủ sẽ không thể nào thích hợp.

Giai đoạn 2: Tức giận

Microsoft quyết định lấy kinh tế làm chiến lược tấn công. Chi phí thực sự của phần mềm không phải là giá mua mà là chi phí duy trì. Microsoft công bố tài liệu “Năm chuyện hoang đường của Linux”, liệt kê những khuyết điểm kỹ thuật, tính năng, miễn phí thì không thực sự miễn phí, các nhà quản trị hệ thống Linux phải bỏ rất nhiều thời gian để hiểu những lỗi kỹ thuật đó. Tuy nhiên, những cáo buộc của Microsoft không có tác dụng. Giám đốc quan hệ công chúng tuyệt vọng: “Chúng ta phải phản ứng có hiệu quả hơn trước những thông tin báo chí về việc chính phủ và các tổ chức lớn đang xem xét các lựa chọn (nguồn mở) khác thay vì sản phẩm của chúng ta…”.

Giai đoạn 3: Mặc cả

Đến thời điểm của Linux world 2002, Microsoft đã rõ là họ cần có một chiến lược mới. Một cán bộ của Microsoft phát biểu: “Như thực tế trong quá khứ, mọi thứ chúng tôi nói chỉ đào huyệt chôn mình sâu hơn…”. Tại Linux world, các đại diện của Microsoft mặc áo có dòng chữ “Hãy đối thoại”.

Giai đoạn 4: Suy sụp

Năm 2003, họ thuê Bill Hilf, người từng điều hành chiến lược Linux thành công của IBM. Khi nói chuyện với các kỹ sư, Hilf nhận ra: “Rõ ràng là họ chẳng biết gì về nguyên lý vận hành nguồn mở, có một sự hiểu nhầm khủng khiếp - họ chỉ thấy nó như một đe dọa”.

Hilf muốn xây dựng một phòng thí nghiệm nguồn mở tại Microsoft, nó bị coi như một cơ sở có nguy cơ rủi ro sinh học. Những ai làm việc với nguồn mở không thể làm việc trong bất kỳ dự án nào khác của Microsoft.

Giai đoạn 5: Chấp nhận

Phòng thí nghiệm của Hilf hoạt động. Điều gì đã thay đổi? Đó là tính thực tế của cấp lãnh đạo, Gates và Ballmer. Đã đến lúc Microsoft phải thích nghi đảm bảo rằng phần mềm của họ chạy được với nguồn mở và ngược lại.

Thị trường đã quyết định rằng, có chỗ cho cả ba mô hình: hoàn toàn miễn phí, miễn phí phần mềm nhưng phải trả tiền cho hỗ trợ, và trả tiền cho mọi thứ.

Yahoo đấu với Google

Yahoo là nhà cung cấp dịch vụ thư điện tử trên web lớn nhất, với khoảng 125 triệu người sử dụng. Đó là một công việc béo bở.

Ngày 1/4/2004, Google thông báo về một dịch vụ thư điện tử mới trên web gọi là Gmail với dung lượng lưu trữ 1 Gigabyte miễn phí - gấp 100 lần con số của Yahoo. Google chưa có khách hàng dùng thư điện tử, nên họ đề xuất dịch vụ với dung lượng lớn như vậy thì chỉ cần vài máy chủ có thể chăm lo được cho vài ngàn khách hàng đầu tiên.

Muốn giữ vị trí hàng đầu, Yahoo phải đưa ra đề nghị hấp dẫn hơn nữa. Đến năm 2007, Yahoo tung hết chiêu, công bố không giới hạn hộp thư điện tử miễn phí. Cuối cùng chiến lược đã phát huy hiệu quả. Yahoo không mất đi thị phần quan trọng. Nhưng Google vẫn chưa bó tay, họ chỉ mới bắt đầu cuộc đua.

LOẠI TIỀN RA KHỎI CUỘC CHƠI

Google và sự ra đời của một mô hình kinh tế thế kỷ XXI

Ngày nay, Google có gần 100 sản phẩm từ phần mềm chỉnh sửa ảnh cho đến chương trình xử lý văn bản và bảng tính, và hầu hết là miễn phí. Miễn phí thực sự, không thủ đoạn gì hết. Google thực hiện theo cách mà bất kỳ công ty số hiện đại nào cũng nên làm: cho không thật nhiều sản phẩm để kiếm tiền từ một số ít.

Google kiếm được rất nhiều tiền từ quảng cáo trên một vài sản phẩm then chốt. Google luôn đặt câu hỏi về chất lượng chứ không phải về tiền. Miễn phí không chỉ là một bước đệm trên con đường đi đến một mô hình kinh doanh mà là cốt lõi trong triết lý sản phẩm của công ty.

Năm 1999-2001, Google phát minh ra cách tìm kiếm cho kết quả ngày càng tốt hơn. Cho phép khách hàng “tự phục vụ” bằng cách tự tạo ra các quảng cáo thích hợp, tạo ra vô số sản phẩm phục vụ, đưa ngày càng nhiều chức năng trước đây chạy trên máy để bàn lên “đám mây” (cloud). Đó là trung tâm dữ liệu của Google - một tòa nhà khổng lồ với hàng chục ngàn bảng mạch công nghệ kết hợp lại - xử lý, băng thông và lưu trữ. Ngày nay, ước tính Google có khoảng nửa triệu máy chủ trải trên hơn 36 trung tâm dữ liệu.

Chiến lược tối đa

Tại sao Google coi miễn phí là mặc định? Bởi vì, đó là cách tốt nhất để tiếp cận một thị trường lớn nhất có thể và được số đông chấp nhận. Schmidt gọi đó là “chiến lược tối đa” của Google.
Mỗi bài viết trên blog xuất hiện là chương trình quét của Google sẽ tạo chỉ mục để giúp Google xuất ra kết quả tìm kiếm tốt hơn. Đại đa số nhân viên của Google đang trăn trở tìm ra những sản phẩm mới để cho đi.

Google muốn thông tin được tự do bởi vì khi chi phí cho thông tin giảm xuống thì họ kiếm được nhiều tiền hơn.

CÁC MÔ HÌNH TRUYỀN THÔNG MỚI

Năm 1925 - buổi bình minh của ngành kinh doanh radio cho mục đích thương mại - là khởi đầu của văn hóa đại chúng thế kỷ XX. Chỉ có một vấn đề: không ai biết trả tiền cho những nội dung đó bằng cách nào, hoặc do những nhà sản xuất máy thu sóng radio trả tiền, hoặc khán thính giả phải đóng thuế hàng năm cho radio và TV họ sử dụng. Đã có một số gợi ý là quảng cáo là giải pháp.

Một vài thập kỷ sau, cả truyền thanh và truyền hình đều có những chương trình không thu phí và được tài trợ nhờ quảng cáo.

Quảng cáo vượt lên trên các phương tiện

Khi hình thành các trang báo in, chúng tôi không để những mẫu quảng cáo gần nội dung biên tập để tránh những xung đột tai hại giữa các câu chuyện hoặc yếu tố nghệ thuật, chúng tôi còn phải xây dựng lòng tin nơi độc giả. Google làm chính điều ngược lại, thành công của Google nhờ ở chỗ nó kết hợp quảng cáo với nội dung. Điều đó rõ ràng là bản chất của quảng cáo là khác biệt trên môi trường trực tuyến.

Đoạn kết của nội dung phải trả tiền

Mạng băng thông rộng là dạng “phát sóng” mới và các mạng truyền hình cáp giá cao giam hãm người xem ngày nay dường như đang tàn lụi. Đó là do thị hiếu của thế hệ mới và do xu thế công nghệ. Lý do dẫn đến việc giới kinh doanh chuyển sang mô hình miễn phí là:

1. Cung và cầu (cung tăng rất nhiều lần mà cầu thì không, số trang của Faceboook tăng nhiều hơn số trang của Times và chúng được tạo ra không hề với ý định thu tiền người đọc).

2. Không còn dạng cụ thể nữa.
3. Tiếp cận dễ dàng.
4. Bước chuyển sang nội dung do quảng cáo trả tiền.
5. Ngành kỹ nghệ máy tính mong muốn nội dung trở nên miễn phí.
6. Thế hệ miễn phí.

Đó là lý do tại sao các mô hình tài trợ bằng quảng cáo chiến thắng trong môi trường trực tuyến và là nguyên nhân làm chúng tiếp tục chiến thắng.

Chiến thắng của mô hình phương tiện truyền thống

Chúng ta coi “thông tin truyền thống” bao gồm phát thanh, truyền hình, tạp chí, báo và các trang web. Cách tốt nhất đo lường ảnh hưởng của nó đối với xã hội là thông qua thời gian người ta dành cho nó. Đo theo cách này, ít loại nào có thể sánh được với trò chơi trực tuyến.
Các loại hình thành công nhất:
1. Bán các món đồ ảo
2. Đăng ký thành viên
3. Quảng cáo
4. Bất động sản ảo
5. Hàng lưu niệm.

Sách miễn phí
Cũng giống như mọi thứ áp dụng mô hình miễn phí khác. Sách miễn phí không phải là không gây tranh cãi. Nhưng thị trường cho sách kỹ thuật số - sách nói, ebook và bản tải xuống từ web - đang phát triển nhanh chóng, phần nhiều để thỏa mãn nhu cầu mà sách in không làm được.

Đối với những sách về đề tài kinh doanh, sách miễn phí thường theo mô hình như nhạc miễn phí có tác dụng như tiếp thị cho bài nói chuyện hoặc phiên tư vấn với chi phí cao.

QUI MÔ CỦA NỀN KINH TẾ MIỄN PHÍ

Miễn phí đâu phải là tiền bạc

Bỏ qua việc sử dụng miễn phí như một mẹo tiếp thị, miễn phí bao trùm toàn bộ nền kinh tế. Hãy điểm qua một vài dạng miễn phí: Toàn bộ nội dung và dịch vụ trực tuyến và phi trực tuyến có quảng cáo tài trợ tại Hoa Kỳ ước từ 80 đến 100 tỷ dollar; loại hình một vài khách hàng có trả tiền trợ giá cho khách hàng miễn phí ước khoảng 800 triệu dollar vào 2008; thị trường trò chơi không thường xuyên có giá trị khoảng 3 tỷ dollar; nền kinh tế quà tặng không thể ước lượng giá chính xác... Tóm lại, miễn phí của một nền kinh tế quốc gia không hề nhỏ.

KINH TẾ HỌC MIỄN PHÍ VÀ THẾ GIỚI MIỄN PHÍ

Econ 000

Năm 1838, Antoine Cournot xuất bản quyền Rechers. Trong đó nói rằng, nếu một nhà máy sản xuất đĩa và một công ty khác cũng muốn mở ra nhà máy sản xuất đĩa thì hai công ty này sẽ điều chỉnh sản lượng để giữ giá bán càng cao càng tốt. Quyển sách của ông không được đánh giá cao.

Sau này Bertrand nhận định khác hơn, thay vì hạn chế sản lượng để tăng giá và lợi nhuận, các công ty sẽ giảm giá để tăng thị phần. Bertrand nói: “Trong một thị trường cạnh tranh, giá sẽ giảm xuống bằng với chi phí biên”.

Sau này các nhà kinh tế học mới kết luận rằng: các thị trường thừa thãi có thể dễ dàng tăng sản lượng, giá cả thường xuống bằng chi phí biên.

Nếu qui luật là “giá giảm xuống mức chi phí biên" thì miễn phí không còn là một phương án, nó là điều kết thúc không thể tránh khỏi. Tuy nhiên, yếu tố quyết định giá cả không phải chỉ là chi phí biên mà là lợi ích biên”.

Độc quyền không còn như xưa nữa

Mô hình của Bertrand chỉ nhắm tới chi phí vật chất. Trong ngành sản xuất phần mềm và nhiều ngành khác nữa, giá trị của sản phẩm hầu hết nằm ở mặt trí tuệ và ngành công nghiệp này hưởng lợi từ cái gọi là “lợi nhuận gia tăng”. Chiến lược bóp chết cạnh tranh không còn hiệu quả như trước nữa, tệ sao chép đã trở nên phổ biến. Ở bất kỳ thị trường nào thì miễn phí luôn là điều hấp dẫn, nhưng kiếm được tiền từ miễn phí là vấn đề của tư duy, sáng tạo và thử nghiệm liên tục.

Miễn phí chỉ là một phiên bản khác

Ý tưởng cơ bản đằng sau việc tạo ra các phiên bản là bán sản phẩm giống nhau cho khách hàng khác nhau ở các mức giá khác nhau. Vào giờ vàng, người ta bán bia với giá rẻ hy vọng rằng một số khách hàng sẽ ngồi lại và tiếp tục uống khi bia được bán với giá bình thường.

Những kẻ bám càng không còn là mối bận tâm

Nếu hỏi liệu Wikipedia có sống sót được không? Người ta sẽ trả lời: “Không được, vì không có lợi nhuận. Ai cũng muốn hưởng mà không phải đóng góp. Họ sẽ dùng nếu nó có, những sẽ không ai tạo ra nó bởi vì vấn đề bám càng (xài chùa)”.

Trong môi trường trực tuyến, chỉ cần 1% người tham gia đóng góp, số đông người tiêu dùng thụ động chính là phần thưởng cho những người đóng góp, chứ không còn là vấn nạn. Số lượng độc giả khổng lồ là một trong những điều có sức thuyết phục nhất để một người quyết định trở thành biên tập viên cho Wikipedia.

CÁC KHU VỰC KINH TẾ PHI THỊ TRƯỜNG

“Mọi sự thừa thãi đều tạo ra một khan hiếm mới”. Chúng ta có khuynh hướng coi trọng những thứ chúng ta không thật dồi dào. Nhưng khát vọng của loài người sẽ ra sao nếu có thật nhiều bánh mì và dạ dày của hắn luôn được chèn chặt? Câu trả lời là “lập tức các nhu cầu khác (cao hơn) xuất hiện và chúng chế ngự cơ thể thay cho những cơn đói sinh lý”.

Một khi nỗi khát khao thông tin và giải trí cơ bản đã được thỏa mãn, người tiêu dùng thụ động biến thành người sản xuất chủ động.

Trong môi trường trực tuyến, sản phẩm được mã hóa thành phần mềm, mời gọi sử dụng miễn phí thì tiền bạc không còn là tín hiệu quan trọng nhất nữa. Thay vào đó, hai yếu tố phi tiền tệ nổi lên thế chỗ là “nền kinh tế của sự quan tâm” và “nền kinh tế của danh tiếng”. Điều gì định nghĩa một “nền kinh tế”? Khái niệm dùng hiện nay là “khoa học về lựa chọn trong điều kiện khan hiếm”.

Ngày nay khi bạn kết nối với ai đó qua blog của mình thực tế bạn đã cho họ một ít danh tiếng của mình, sự chuyển giao danh tiếng này làm hai bên giàu có hơn. Có một thị trường danh tiếng thực sự - đó là Google. Đơn vị tiền tệ của danh tiếng trên môi trường trực tuyến chính là số lượng kết nối đến trang web. Và còn gì đo lường mức độ quan tâm tốt hơn là chỉ số về độ tấp nập của web?

Nền kinh tế quà tặng

Kinh tế quà tặng trở nên sống động và có thể đo đếm được khi nó xuất hiện trên môi trường trực tuyến dưới hình thức các hành vi, điều ta làm cho người khác mà không yêu cầu được đền đáp. Nguyên nhân không hẳn do bản tính vị tha. Lòng vị kỷ được thấu triệt là động lực mạnh mẽ nhất của nhân loại. Người ta làm việc miễn phí có thể vì nhiều lý do: cho vui, có điều gì đó cần thể hiện, muốn được người khác quan tâm, để phát triển cá nhân, vì cộng đồng. Nghĩa là khi người ta cảm thấy là một phần của cộng đồng và muốn cống hiến cho sự tồn tại và phát triển của nó.

(ĐÔI KHI) LÃNG PHÍ LÀ HAY

Khi tự nhiên phung phí sự sống

Bộ não chúng ta dường như được lập trình để cưỡng lại lãng phí. Chúng ta quan tâm bảo vệ từng hậu duệ của mình, chúng ta áy náy với một món đồ chơi không thích hoặc thức ăn không dùng hết.
Tuy nhiên, phần còn lại của tự nhiên không như vậy. Một con cá ngừ đại dương có thể phát tán mười triệu trứng đã thụ tinh trong mùa đẻ trứng, có lẽ chỉ mười con sống đến lúc trưởng thành. Một triệu con chết mới có một con sống. Thiên nhiên phí phạm sự sống để có cuộc sống tốt hơn. Nguyên nhân tự nhiên lãng phí như vậy là vì chiến lược tàn sát là cách tốt nhất để làm điều mà các nhà toán học gọi là “khảo sát toàn bộ không gian tiềm năng”. Đó là cách chấp nhận lãng phí. Vứt đi quá nhiều có vẻ không hay, thậm chí quái lạ, nhưng đó là cách thích hợp để tận dụng sự thừa thãi.

Video về mèo cũng có chỗ của nó

Người ta thường kêu ca rằng Youtube không phải là mối đe dọa đối với truyền hình vì trên đó toàn những thứ “rác rưởi”. Rác rưởi hay không là trong con mắt của người xem. Tất cả các đoạn phim ngẫu nhiên trên Youtube chính là các hạt của hoa bồ công anh bay trong không gian và tìm kiếm một mảnh đất màu mỡ để đáp xuống. Theo cách nhìn đó, chúng ta đang “phung phí video” để tìm ra đoạn video tốt hơn, khám phá cái không gian tiềm tàng trong phim ảnh. Điều này dẫn đến sự khác biệt giữa lối tư duy về thừa thãi và khan hiếm.

Quản lý sự khan hiếm

Mô hình Youtube là hoàn toàn miễn phí, nhưng nó không làm ra tiền. Huhu thì cho xem miễn phí và bạn phải trả giá theo cách cổ điển khi xem các đoạn quảng cáo, dù bạn muốn hay không. Tuy nhiên, nó lại tạo ra doanh thu khá. Hai trường hợp này minh họa sự đối đầu giữa các mô hình miễn phí thực sự trăm phần trăm, nhưng chút khan hiếm giả tạo lại là cách làm ra tiền tốt nhất.

THẾ GIỚI MIỄN PHÍ

Trung Quốc là chốn miễn phí tung hoành

Trung Quốc là nơi vấn đề vi phạm tác quyền thắng thế. Hàng năm qua, các cuộc truy quét thiếu nhiệt tình dưới sức ép ngoại giao của phương Tây không có một ảnh hưởng nào rõ rệt đối với những người bán hàng trên phố hay một số trang web. Ở Trung Quốc, bạn có thể có được hầu hết những thứ mình muốn mà chẳng mất tiền.

Thay vì chống lại nạn vi phạm tác quyền, thế hệ nhạc sĩ mới của Trung Quốc chấp nhận nó, vi phạm tác quyền là hình thức tiếp thị miễn phí, nhờ nó mà họ nổi tiếng và họ chuyển sự nổi tiếng thành tiền thế nào tùy ý. Sản phẩm vi phạm tác quyền ước tính chiếm đến 95% mức tiêu thụ ở Trung Quốc.

Nền kinh tế của nước hoa Chanel nhái

Hàng nhái và vô số đồ công nghệ giả liệu nhan nhản trong các cửa hàng, đường phố Trung Quốc. Như vậy, quyền sở hữu trí tuệ được miễn phí, bạn chỉ phải trả tiền (rất rẻ) cho các nguyên tử vật chất. Gốc rễ và hậu quả của việc vi phạm tác quyền lại sâu sắc hơn vẻ bề ngoài. Cái túi Gucci nhái vẫn thể hiện như một túi Gucci thật và nó hiện diện khắp nơi. Hệ quả có hai mặt: “tác động thay thế” - tiêu cực và “tác động kích thích” - tích cực. Người tiêu dùng hiểu rõ sự khác biệt giữa hàng thật và hàng nhái, và sẽ chọn hàng thật khi họ đủ tiền. Một phụ nữ trẻ nhận định: “Nếu bạn mặc thật nhiều hàng nhái hoặc có nhiều túi xách hàng giả, những người bạn của bạn sẽ biết, do đó bạn chẳng lừa được ai cả. Thế thì mua hàng thật còn hơn”.

Vi phạm tác quyền không hủy diệt thị trường, nó kích thích thị trường bùng nổ phục vụ làn sóng người tiêu dùng trung lưu đang xuất hiện. Hai sản phẩm, thật và giả, đơn giản là nhằm vào các phân khúc thị trường khác nhau.

Quyền lực của những người bán rong Brazil

Giống như ở Trung Quốc, trên các đường phố Brazil, những người bán hàng rong giới thiệu những đĩa CD không phải là hàng chính thức của một hãng đĩa nổi tiếng nào mà là những sản phẩm do nhóm họ sản xuất, tuy nhiên, lại hợp pháp.

Khi có buổi biểu diễn của một ca sĩ hoặc ban nhạc nổi tiếng nào đó đến địa phương, thì những người bán hàng rong là nhóm tiền trạm, tiếp thị, tổ chức, quảng cáo đầu tiên. Họ ghi hình, sản xuất đĩa CD, DVD bán ngay tại chỗ. Chín mươi phần trăm số ban nhạc không có hợp đồng ghi âm và cũng không đầu quân cho nhãn đĩa nào cả, họ không cần điều đó. Cho người khác nhạc của mình miễn phí tạo ra một ngành kinh doanh lớn đến mức mô hình thu phí không thể nào đạt được.

HÌNH DUNG VỀ THỪA THÃI

Mọi tác giả tiểu thuyết khoa học viễn tưởng đều biết luật bất thành văn: bạn chỉ có thể phá vỡ những định luật vật lý một hoặc hai lần trong mỗi câu chuyện. Triết thuyết khoa học viễn tưởng là thứ mà nhà văn Clive Thompson gọi là “cứ điểm cuối cùng của triết lý”. Tình yêu sẽ thay đổi ra sao nếu chúng ta sống đến 500 tuổi? Nếu chúng ta có thể du hành trở về quá khứ để đảo ngược những quyết định trước đây, bạn có làm không? Điều gì sẽ xảy ra nếu bạn đối đầu nói chuyện hoặc giết chết Thượng đế? Khi máy móc làm hết mọi việc, điều gì là động lực của chúng ta? Khan hiếm khi kết thúc sẽ làm chúng ta lười nhác, suy đồi, ngu ngốc và tầm thường.

Tôn giáo là lĩnh vực có những ví dụ vĩ đại nhất về các tình thế cực đoan do thừa thãi hoặc khan hiếm tạo ra. Thiên đường là hình ảnh tuyệt vời về thừa thãi: Thiên thần lướt trên những đám mây mịn màng, chơi đàn hạc và không màng đến nhu cầu về vật chất; người chết trở nên thanh khiết, huy hoàng và hoàn hảo; mọi khiếm khuyết về cơ thể được rũ bỏ… Phải chăng kết cuộc không thể tránh khỏi là khi khan hiếm biến mất thì động lực cũng bị triệt tiêu?

Về mặt kinh tế, thừa thãi là động lực cho đổi mới và tăng trưởng. Nhưng về mặt tâm lý, khan hiếm chính là thứ chúng ta thực sự thấu hiểu.

TIỀN NÀO CỦA NẤY

Những nghi ngờ về miễn phí

Mười bốn điều phản bác lại kinh tế dựa trên miễn phí thường nghe nhất:

1. Làm gì có bữa trưa miễn phí: Quan niệm này khẳng định một cá nhân hay một xã hội không thể nhận được thứ gì đó mà không phải trả tiền. Kinh tế học ít nhất ở dạng lý tưởng, tuân theo qui luật bảo toàn vật chất: có vào thì phải có ra.

2. Miễn phí luôn đi kèm với những chi phí ẩn/miễn phí là một trò lừa đảo. Miễn phí đôi khi có ràng buộc. Hình ảnh quảng cáo làm trong web trở nên bừa bộn, chúng ta bị mồi chài rồi trở thành khách hàng trả tiền. Thực tế: Miễn phí của thế kỷ XXI cũng tốt như thu phí, hoặc tốt hơn nữa: không lừa, không bẫy, không ràng buộc.

3. Internet không thực sự là miễn phí vì bạn phải trả phí truy cập. Đây là một nhầm lẫn phổ biến. Hàng tháng chúng ta phải trả một món tiền để truy cập internet. Thực tế, số tiền này trả cho hạ tầng truyền dẫn, nó chẳng liên quan gì đến những thứ được truyền đi trên hạ tầng đó.

4. Miễn phí chỉ là trò quảng cáo. Thực tế: Thị trường phần mềm dùng thử miễn phí và trả phí để dùng phiên bản hoàn chỉnh đã tồn tại hàng thập kỷ, không dựa vào quảng cáo.

5. Miễn phí nghĩa là phải chịu quảng cáo nhiều hơn, cũng có nghĩa là tính riêng tư giảm xuống. Thực tế, hầu hết các trang web do quảng cáo dẫn dắt đều có chính sách đảm bảo sự riêng tư, ngăn cấm chuyển thông tin về người sử dụng cho người đăng quảng cáo.

6. Không chi phí = vô giá trị. Người ta cho rằng tiền là cách duy nhất đo lường giá trị. Nhưng người ta dựng trang web chủ yếu dựa trên hai đơn vị phi tiền tệ là sự quan tâm và danh tiếng. Cả hai có được là nhờ các nội dung và dịch vụ miễn phí.

7. Miễn phí hủy hoại cách tân. Người ta cho rằng miễn phí vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, nên người ta sẽ chẳng muốn sáng tạo nếu chẳng được gì. Giai đoạn bảo hộ sáng chế kéo dài 17 năm. Nhưng khi thời kỳ bảo hộ đã qua, sản phẩm trí tuệ đó trở thành thứ miễn phí.

8. Đại dương cạn kiệt, nhà vệ sinh công cộng tởm lợm và trái đất nóng lên là cái giá thực sự của miễn phí. Trong thế giới của các bit thông tin, chi phí môi trường còn lâu mới là vấn đề quan trọng. Hoang phí về năng lượng xử lý, lưu trữ và băng thông về cơ bản sẽ qui về chi phí điện năng. Nhưng cuối cùng họ đã đặt các trung tâm dữ liệu gần nguồn năng lượng mặt trời, phong điện và địa nhiệt năng để đảm bảo không gây hậu quả môi trường như các nguyên tử vật chất phí phạm.

9. Miễn phí sẽ khuyến khích chuyện vi phạm bản quyền. Ngược lại, chính vi phạm bản quyền thúc đẩy miễn phí.

10. Miễn phí nuôi dưỡng một thế hệ không trân trọng bất cứ điều gì. Thực tế, giới trẻ có thể phân biệt được giữa thực và ảo, và chúng ứng xử khác biệt phù hợp trong từng hoàn cảnh.

11. Không thể địch lại miễn phí. Thực tế, chúng ta có thể dễ dàng cạnh tranh với miễn phí, đơn giản là đưa ra được sản phẩm tốt hơn hay chí ít là khác biệt so với phiên bản miễn phí.

12. Cho không sản phẩm của mình mà chẳng kiếm được tiền. Trường hợp Paulo Coelho, ông đưa tác phẩm nổi tiếng của mình lên dịch vụ trao đổi tập tin ngang hàng miễn phí như Bit Torrent. Nhờ vậy ông bán được rất nhiều sách .

13. Miễn phí chỉ tuyệt diệu nếu có ai đó đang trả tiền. Thực tế, người khác trả tiền, nhưng họ trả tiền cho phiên bản cao cấp so với phiên bản bạn nhận được miễn phí.

14. Miễn phí hy sinh chất lượng. Nếu nhà báo chuyên nghiệp chứng kiến công việc của mình biến mất thì họ phải sáng tạo lại chính mình một cách mạnh mẽ hơn, từ đó có thể xuất hiện nhiều nhà báo hơn chứ không phải ít đi vì khả năng tham gia làm báo đã mở rộng ra ngoài. Báo chí chuyên nghiệp sẽ chia sẻ sân chơi với loại hình báo chí như thú tiêu khiển.

KẾT

Năm 2001, thị trường chứng khoán sụp đổ. Một vài năm sau thị trường hồi phục và chúng ta nhìn lại, chúng ta ngạc nhiên phát hiện rằng trên thực tế không thể tìm thấy ảnh hưởng của sự sụp đổ ấy đối với sự phát triển của internet, nó còn vẫn tiếp tục vươn rộng giống hệt trước đây. Web vẫn có tầm quan trọng như dự báo của những người lạc quan nhất. Chỉ có điều nó mất nhiều thời gian hơn để đạt được tới tầm vóc mà thị trường chứng khoán tính toán. Từ góc nhìn của người tiêu dùng, miễn phí hấp dẫn hơn nhiều trong một nền kinh tế đi xuống.

Miễn phí vẫn có tác động lên tâm lý người dùng. Nhưng miễn phí không thôi chưa đủ. Nó cần phải được song hành với “trả tiền”. Tương tự như con dao cạo miễn phí của King Gillette chỉ có nghĩa kinh tế khi đi cùng với lưỡi dao đắt tiền. Các nhà kinh doanh trên web ngày nay cũng phải tạo ra không chỉ sản phẩm người ta ưa chuộng mà còn có cả sản phẩm người ta sẽ trả tiền để mua. Miễn phí có thể là mức giá tốt nhất, nhưng nó không thể là mức giá duy nhất.
Nhượng Quyền Việt Nam

Thứ Sáu, 5 tháng 12, 2014

Guy Kawasaki: Sống cho hiện tại, làm việc cho tương lai

Guy Kawasaki hiện đang là giám đốc tiếp thị cho Canva và là cố vấn cho mảng kinh doanh của Motorola (Google). Trước đây, ông từng là cựu chuyên gia tại Apple, giúp “Quả táo” trở thành một “hiện tượng” mà tất cả mọi người đều mơ ước như ngày nay. Dưới đây là một số lời khuyên của ông dành cho các bạn trẻ ngày nay.

Kawasaki là tác giả của 8 cuốn sách Best Seller, trong đó có Nghệ thuật khởi nghiệp (The Art of the Start) hay Nguyên tắc cách mạng (Rules for Revolutionaries). Ông tốt nghiệp tại ĐH Standford, nhận bằng MBA của UCLA, từng bỏ ngang chương trình Luật tại UC Davis và là tiến sỹ danh dự của trường Babson College.

Khi viết về tuổi 22 của mình, tôi chợt muốn đính kèm một bức ảnh để các bạn có thể biết tôi đã từng trông như thế nào hồi đó. Ý nghĩ đó khiến tôi bật cười bởi lúc ấy máy ảnh số thậm chí còn chưa ra đời.

Phải, chỉ 3 tháng nữa thôi tôi sẽ bước sang tuổi 60. Dựa trên 38 năm kinh nghiệm sống và làm việc, dưới đây là một vài lời khuyên tôi nghĩ chúng sẽ hữu ích cho các bạn:

1. Thử thách những cái đã biết và nắm lấy những gì chưa biết
Chấp nhận những gì đã biết và chống lại những gì chưa biết quả thực là một sai lầm lớn. Trong thực tế, điều tốt nhất là bạn hãy làm ngược lại: thử thách những gì đã có và học cách chấp nhận những điều mới mẻ.

Bạn chỉ còn quá trẻ và đây là lúc để bạn chấp nhận những rủi ro đó bởi bạn có quá ít để mất. Những điều tuyệt vời và vĩ đại thường đến với những ai luôn sẵn sàng đương đầu với những rủi ro mới.

2. Hãy học cách ngắn gọn

Khác với trường học, môi trường làm việc sẽ ưa thích sự ngắn gọn hơn bao giờ hết. Sẽ không còn chỗ cho những bài luận dài hàng chục trang để làm hài lòng các giáo sư nữa mà thay vào đó là sự ngắn gọn và chính xác.

Hãy thử tưởng tượng bạn sẽ phải trả lời hàng chục email, lắng nghe vài lần thuyết trình và đọc vài báo cáo mỗi ngày, lúc đó bạn sẽ muốn chúng dài như thế nào? Đây là vài quy tắc mà tôi hay sử dụng: email - không quá 5 câu, thuyết trình - dưới 10 slide hay 20 phút và báo cáo - giới hạn trong 1 trang.

3. Hãy sử dụng những câu chuyện và ví dụ cụ thể
Những người “mê hoặc” nhất thường là những người biết cách kể chuyện, làm thử và sử dụng các hình ảnh trực quan để truyền tải thông điệp tới người khác.

Khi thảo luận một chủ đề nào đó, họ tạo nên một bức tranh sống động trong tâm trí mọi người thông qua các phương tiện truyền thông, email, thuyết trình hay cuộc gọi.

Steve Jobs không chỉ là bậc thầy về công nghệ mà còn là người rất giỏi khi thuyết trình. Nếu bạn muốn trở nên thuyết phục như ông ấy, hãy học cách giao tiếp bằng những câu chuyện và các ví dụ trực quan.

4. Hãy trân trọng công việc đầu tiên

Thông thường, mỗi người sẽ trải qua từ 5 tới 10 vị trí khác nhau ở vài lĩnh vực. Do vậy, công việc đầu tiên chưa chắc sẽ là công việc cuối cùng của bạn. Trừ phi bạn là một trong những người sáng lập ra Google hay Facebook nhưng tất nhiên, đây chỉ là thiểu số mà thôi.

Sai lầm mà chúng ta thường mắc phải là chẳng học được điều gì từ công việc đầu tiên đó vì nghĩ rằng trước sau gì mình cũng sẽ nghỉ công việc này. Điều này quả thật vô cùng lãng phí. Bạn sẽ chẳng thể có công việc thứ 2 hay thứ 3 nếu như không có cái thứ nhất.

Hãy xắn tay áo lên mà làm việc cật lực cho công việc đầu tiên của bạn, và cũng đừng bao giờ nghĩ về việc tìm được một vị trí hoàn hảo ngay trong lần đầu tiên.

5. Sống cho hiện tại, làm việc cho tương lai.
Ngay khi bạn bắt đầu công việc mới của mình, sẽ chẳng có ai trong văn phòng của bạn còn quan tâm tới việc bạn từng học ở đâu, điểm GPA ra sao, bạn có từng làm thủ lĩnh của đội bóng hay bố mẹ bạn là ai nữa cả.

Tất cả những gì họ quan tâm là bạn có mang tới những kết quả như kỳ vọng hay không mà thôi. Vì thế, hãy làm việc thật chăm chỉ để sếp của bạn hài lòng.

6. Hãy khiến sếp của bạn hài lòng

Đừng hiểu nhầm rằng tôi đang khuyên bạn đi nịnh sếp của mình. Điều tôi muốn nói ở đây là hãy làm cho vị quản lý luôn hài lòng với kết quả của bạn.

Nếu từ trước đến giờ bạn luôn nghĩ mình cần phải đối đầu với các ý kiến của cấp trên để ghi điểm trong mắt của họ thì có thể bạn đã nhầm. Làm như vậy chỉ khiến bạn tỏ ra không trung thành với công ty và ngớ ngẩn đối với những đồng nghiệp.

Hãy làm cho sếp của mình thành công, như vậy cơ hội thăng tiến của bạn cũng vì thế mà rộng mở theo.

7. Không ngừng học hỏi
Rất nhiều người lầm tưởng rằng sau khi ra trường và yên vị với một công việc nào đó, việc học tập coi như đã hoàn thành. Thực tế cho thấy, bất kỳ bạn đang làm gì đi chăng nữa, học tập luôn là một quá trình không bao giờ có điểm kết thúc.

Và khi bước chân vào con đường chuyên nghiệp, việc học đôi khi trở nên dễ dàng hơn bởi bây giờ bạn đã biết là mình thích cái gì và những thứ bạn học sẽ trở nên có ích hơn so với trước đây.

Nói không ngoa, việc học chỉ thực sự bắt đầu khi bạn nhận được tấm bằng tốt nghiệp.

8. Đừng kết hôn khi còn quá trẻ

Lời khuyên này có thể làm nhiều người không hài lòng nhưng tôi nghĩ hôn nhân sẽ ảnh hưởng khá nhiều tới sự nghiệp của mỗi người.

Tôi kết hôn ở tuổi 32 và có lẽ đó là quyết định đúng đắn nhất cuộc đời tôi. Trước đó, tôi (và có thể cả bạn nữa) cũng vẫn còn mơ hồ về những gì mình sẽ làm trong tương lai.

Và chúng ta thậm chí còn không chắc chắn về người chúng ta định lấy liệu có đúng là một nửa của cuộc đời mình không. Nhưng dù sao đi nữa, đó cũng là quyết định của bạn.

Hãy kết hôn khi bạn cảm thấy tạm hài lòng với sự nghiệp của mình. Gần 30 năm qua, tôi chưa từng thấy ai than phiền rằng họ kết hôn quá muộn nhưng tôi biết rất nhiều người nuối tiếc vì kết hôn khi còn quá trẻ.

9. Không có gì là tuyệt đối

Khi bạn còn nhỏ, bạn biết rằng nói dối, gian lận hay ăn trộm là hoàn toàn sai. Khi bước chân vào công việc, bạn cần nghĩ về những điều tương tự như thế.

Khi trưởng thành hơn, bạn sẽ thấy giữa cái đúng và cái sai đôi khi không còn là tuyệt đối nữa. Vì thế, đừng bao giờ nghĩ rằng cái gì đúng sẽ luôn đúng và cái gì sai sẽ luôn luôn sai.

10. Hãy dành thời gian cho những người thân yêu của mình

Tiền bạc, quyền lực hay danh vọng đều chẳng thể thay thế cho gia đình và bạn bè của bạn. Chúng càng trở nên vô nghĩa nếu một ngày bạn mất đi những người thân yêu nhất của mình.

Khi những người thân vẫn còn ở bên cạnh, bạn thường coi đó là một điều hiển nhiên. Nhưng chúng ta đâu thể biết trước được điều gì sẽ tới trong tương lai.

Vì thế hãy dành thời gian cho những người thân của bạn bởi suy cho cùng, một cuộc sống hạnh phúc cũng chính là mục đích cuối cùng khi chúng ta bắt tay vào một công việc nào đó.

Lời kết
Khi chúng ta còn nhỏ, chúng ta nghĩ rằng bố mẹ luôn luôn đúng. Khi vào trung học hay đại học, chúng ta thường muốn phản kháng lại cha mẹ mình. Tuy vậy, khi tốt nghiệp, bạn sẽ nhận ra rằng những lời khuyên của cha mẹ trước đây thường khá đúng.

Tin hay không tuỳ bạn, nhưng rồi một ngày bạn cũng sẽ trở thành những bậc phụ huynh như cha mẹ mình, vì vậy hãy luôn mang theo những lời khuyên của họ bởi chúng sẽ có ích trong một lúc nào đó.

Theo Trí Thức Trẻ

Thứ Năm, 4 tháng 12, 2014

Phong cách họp của 9 CEO nổi tiếng

Cựu lãnh đạo Apple từng đuổi người ngồi họp ra ngoài vì cô ta không cần thiết, còn CEO Evernote lại điều những nhân viên "chẳng liên quan" vào ngồi họp cùng.

Trung bình mỗi ngày người Mỹ tham gia 11 triệu cuộc họp. Theo ước tính, những cuộc họp vô bổ làm các công ty tiêu tốn 37 tỷ USD/năm.

Ngược lại, cũng có những CEO nổi tiếng điều hành họp hiệu quả với bí quyết riêng. Tạp chí Business Insider đã làm một thống kê nhỏ để so sánh phong cách trên bàn họp của các sếp Mỹ.

1. CEO General Motor - Nói ít, nghe nhiều

Ông Alfred Sloan điều hành GM từ những năm 1920 - 1950, có công đưa GM lên thành tập đoàn lớn nhất thế giới. Trong thập kỷ 50, GM nắm giữ 46% thị phần ô tô Mỹ, tuyển dụng hơn 600.000 nhân viên.

Mở đầu các buổi họp, ông Sloan sẽ phát biểu mục tiêu, sau đó ngồi nghe cấp dưới báo cáo, rồi rời đi ngay. Tuy nhiên khi về phòng, ông lập tức ngồi viết biên bản họp.
Ông tóm tắt buổi thảo luận, các kết luận và nhiệm vụ được mọi người thống nhất. Ông liệt kê rõ hạn chót và người chịu trách nhiệm thực hiện. Cuối cùng, ông gửi bản sao biên bản họp tới tất cả mọi người có mặt ngày hôm đó.

Chính những biên bản họp này đã biến Sloan thành một "lãnh đạo hiệu quả kiệt xuất", là yếu tố giúp GM vươn lên thống lĩnh thị trường vào thế kỷ 20.

2. CEO Tesla - Yêu cầu nhân viên chuẩn bị kỹ càng

Elon Musk là một người kỹ tính. Ông sẵn sàng sa thải nhân viên chỉ vì anh ta không đạt hạn chót.

Nếu tham gia họp cùng Musk, mọi người phải chuẩn bị sẵn sàng từ trước. Nếu ông bất chợt đưa ra câu hỏi và nhân viên không trả lời được, sẽ có chuyện xảy ra.

3. Giám đốc tài chính Facebook - Bám sát lịch trình

Buổi họp nào bà Sheryl Sandberg cũng mang theo một cuốn sổ gáy xoắn, liệt kê các chủ đề bàn luận và biện pháp thực thi. Trong buổi họp, bà xóa mỗi danh mục và xé giấy sau khi thảo luận xong, và chuyển tới trang tiếp theo.

4. CEO Apple - Càng ít người càng tốt

Steve Jobs là người đưa Apple trở thành tập đoàn đáng giá nhất hành tinh, sản sinh ra những sản phẩm thân thiện với người dùng với thiết kế tối giản. Đó cũng là phong cách điều hành các buổi họp của ông. Steve không thích nhiều người ngồi họp vì "lắm thầy nhiều ma".

Chuyện kể rằng trong một buổi họp hàng tuần, Steve phát hiện có một người lạ mặt xuất hiện trong phòng. Ông hỏi tên và chức vụ của cô gái, sau đó lịch sự mời cô ra ngoài. "Tôi không nghĩ chúng tôi cần cô trong buổi họp. Cảm ơn cô", ông nói.

Ngay cả khi Tổng thống Mỹ Barack Obama mời ông tới một buổi gặp mặt của các sếp công nghệ, Steve từ chối với lý do: Danh sách khách mời quá dài.

5. CEO Google - Không cần chờ họp


Năm 2011, khi Larry Page lên nắm chức CEO của Google, ông đã gửi một email tới toàn bộ công ty, tiêu đề: "Làm thế nào để họp hiệu quả?". Trong email viết: "Không cần đợi họp mới đưa ra quyết định. Trong lúc thực sự cần, thì phải tổ chức họp luôn".

6. CEO Nike - Vừa họp vừa vẽ

Mark Parker thường vào họp với một cuốn sổ vẽ tay dày đặc các thiết kế sản phẩm. Năm 2009, vận động viên xe đạp Lance Armstrong tham gia một cuộc họp kinh doanh với Parker. Vị CEO của công ty sản xuất đồ thể thao dành cả buổi hí hoáy tô vẽ trong cuốn sổ.

Cuối buổi họp, Armstrong xin phép Parker cho xem những bức hình ông vẽ. "Anh ấy xoay trang giấy lại và cho tôi xem thiết kế của một đôi giày hoàn hảo", Armstrong nhớ lại.

Những bức ký họa khiến quá trình động não trở nên tách bạch. Đây là yếu tố giúp cân bằng giữa đòi hỏi của lĩnh vực thiết và của kinh doanh, Parker cho biết.

"Tôi quan tâm tới sự cân bằng. Bạn có thể bị lệch lạc lúc này hay lúc khác, chẳng sao cả, nhưng nhìn chung tôi để mắt tới điểm ổn định trong dài hạn để đạt được thành công.

7. CEO Yelp - Họp một đối một


Jeremy Stoppelman thường có những cuộc họp riêng với cấp dưới trực tiếp của ông hàng tuần. "Tôi thích nghe mọi người nói về những vấn đề của họ, cả chuyện cá nhân và công việc, từ đó giải quyết các vướng mắc, để bộ máy tập đoàn hoạt động trơn tru", ông kể.

8. CEO Evernote - Cho nhân viên tiềm năng tham gia họp

Trong bất cứ buổi họp nào tại Evernote, cũng có một nhân viên "không liên quan". CEO Phil Libin muốn tận dụng các buổi họp như các đợt "huấn luyện văn phòng".


Nhân viên được cử đi họp ở các phòng ban xa rời nghiệp vụ, để khám phá các khu vực khác nhau trong công ty. "Họ có nhiệm vụ phải lắng nghe mọi người bàn luận. Ngoài ngồi nghe, họ cần đặt câu hỏi và nói lên ý kiến", Libin nói.

9. CEO Amazon - Thích tranh cãi

Làm việc tại Amazon, xung đột là việc xảy ra thường ngày. Jeff Bezos nổi tiếng ghét sự "dĩ hòa vi quý", khi mọi người đồng tình với nhau vì ngại tranh luận.

Vì vậy, trong cuốn cẩm nang lãnh đạo tại Amazon, có đoạn viết:"Các lãnh đạo có nhiệm vụ đặt câu hỏi với các quyết định họ cảm thấy bất hợp lý, kể cả khi việc này gây nên sự khó chịu và mệt mỏi. Các lãnh đạo cần có con mắt dò xét và đeo bám. Họ không thỏa hiệp để dĩ hòa vi quý. Mỗi quyết định được đưa ra, họ phải chịu trách nhiệm hoàn toàn".
Theo BizLive

Thứ Tư, 3 tháng 12, 2014

Bài học 1 tỷ USD của Jeff Bezos

Jeff Bezos, sáng lập và CEO đương nhiệm của Amazon.com, là một người luôn kiên định với những quyết định được đưa ra, tuy rằng không phải quyết định nào cũng sáng suốt. 

Nhưng chính những quyết định sai lầm đã định hình nên thành công cho Bezos - một trong những người giàu nhất thế giới, được tạp chí Time vinh danh "Người đàn ông của năm", tạp chí Fortune công nhận "Doanh nhân của năm". 


Bài học 1 tỷ USD

Năm 1998, mạng Amazon chỉ bán sách, đĩa nhạc và phim ảnh đã nhanh chóng vươn lên vị trí số 1 trong địa hạt kinh doanh trực tuyến thế giới. Công ty thu hút hàng loạt những nhà đầu tư mạo hiểm nổi tiếng, và Bezos thời điểm đó đã có giấc mơ biến Amazon thành cửa hàng bán "tất cả mọi thứ".
Sau khi nghiên cứu thị trường, Bezos quyết định khai thác mảng đồ chơi. Song, mặt hàng này rất khác so với những sản phẩm trước đây của Amazon do không có nhà phân phối chính. Amazon phải mua đồ chơi từ nhiều nhà sản xuất khác nhau, mang về kho và hy vọng có thể bán được.

Điều này đi ngược với mô hình kinh doanh cốt lõi của Amazon, nhưng Bezos vẫn tiếp tục duy trì. Bezos khẳng định quyết tâm khi đầu tư 120 triệu USD để mua đồ chơi, bất chấp mọi lời khuyên từ hội đồng quản trị Amazon, ngay cả người phụ trách chính mảng đồ chơi của Amazon.

Kết quả, sau Giáng sinh năm đó, Amazon chỉ thu được 50 triệu USD từ mặt hàng này, phần còn lại không có triển vọng bán được. Amazon buộc phải mang toàn bộ số đồ chơi này đi phân phát từ thiện hoặc bán cho các nhà xuất khẩu với giá rẻ.

Cùng năm đó, Bezos bắt đầu dự án bán đấu giá trên Amazon và kỳ vọng sẽ vượt mặt eBay trong lĩnh vực này. Bezos đặt tên dự án là “Earth’s Biggest Selection” (tạm dịch: Phiên đấu giá lớn nhất thế giới). Tuy nhiên thị trường chỉ xem đây là một phiên bản khác của eBay.  Bezos đã chi 175 triệu USD để mua lại công ty thanh toán trực tuyến Accept.com nhằm hỗ trợ giao dịch.

Song dự án này lại thất bại, còn lớn hơn cả phi vụ đồ chơi. Lý do: eBay đã quá nổi tiếng và có lợi thế mạnh mẽ của một người đi trước. Vì vậy thị trường không còn chỗ cho một sàn đấu giá có ít người mua, ít người bán, ít mặt hàng hơn mà không không đủ tiềm lực để cạnh trang lâu dài.

Một khoản chi khác của Bezos vào năm 1998 là Junglee - trang tìm kiếm, so sánh giá cả các mặt hàng trên các website bán hàng. Thị trường này thời điểm đó đang nóng lên với sự tham gia của các đại gia như Google, Yahoo, PriceGrabber và Bizrate.

Bezos đã chi 170 triệu USD để phát triển Junglee nhưng hội đồng quản trị của Amazon phản đối dự án này vì Junglee sẽ đưa các khách hàng chuyển hướng sang các trang bán hàng đối thủ. Kết quả, dự án bị đóng cửa chỉ sau 1 tháng thực hiện.

Không chỉ có giấc mơ biến Amazon thành mạng lưới bán tất thảy mọi thứ trên thế giới, Bezos còn mơ ước sở hữu mọi trang web kinh doanh lớn của thế giới.

Giai đoạn 1998 - 1999, Bezos mua lại hàng loạt công ty thương mại trực tuyến như trang đánh giá điện ảnh IMDB.com, mạng xã hội các công ty PlanetAll.com, công ty dữ liệu Alexa.com, một nhà xuất bản tại Anh và một tại Đức. Bezos còn đầu tư mạnh vào các trang Drugstore.com, Pets.com, Gear.com, WineShopper.com, Greenlight.com và HomeGrocery.com.

Tuy nhiên tất cả những tham vọng ấy đều sụp đổ. Nguyên nhân là vì Bezos và các cộng sự không đủ khả năng để có thể quản lý một lúc tất cả các doanh nghiệp khác nhau.

Hàng loạt thất bại liên tiếp đã lấy đi của Bezos gần 1 tỷ USD trong những năm cuối thế kỷ 20.

Trưởng thành sau thất bại

Bước qua hàng loạt sai lầm, Bezos nhanh chóng rút ra những kinh nghiệm đầu tư xương máu và đứng dậy mạnh mẽ hơn.

Bezos nhận ra những sai lầm của mình phần lớn đến từ những chiến lược đối lập với con đường chính của Amazon. Đầu thế kỷ 21, thay vì chọn hướng tăng trưởng diện rộng, Bezos tập trung tìm hiểu những nguyên tố cơ bản tạo nên thành công cho Amazon.

Rút kinh nghiệm lần đầu tư trước, Bezos chọn cách liên kết với Toys “R” Us để phân phối mặt hàng đồ chơi của thương hiệu này trực tuyến không qua lưu kho.

Bezos cũng chuyển đổi dự án đấu giá Amazon thành zShop - nơi người bán có thể tạo một cửa hiệu bán hàng riêng trên Amazon. zShops không đi ngược lại định hướng cốt lõi của Amazon. Sự thay đổi này tạo tiền đề cho thành công lớn hơn của Amazon sau này là mô hình Amazon Marketplace.

Về sau nhìn lại, Bezos cho biết có hai bài học quan trọng ông nhận ra được sau những thất bại.
Đầu tiên, như những doanh nhân thành công khác, Bezos biết cái giá của thất bại và chấp nhận nó như một phần trong các bước đi chiến lược của công ty.

Bezos không ngây thơ đến mức tin rằng mọi sự đầu tư đều mang đến lợi nhuận cao, ông cũng không lãnh đạm đến mức phớt lờ những lợi nhuận tiềm ẩn từ các phi vụ đầu tư rủi ro. Một khi đã tính toán kỹ các rủi ro và quyết định thực hiện thì sẵn sàng chấp nhận mọi tình huống xấu nhất, cho dù nó có gây ảnh hưởng đến danh tiếng của bản thân.

Điều thứ hai, quan trọng hơn, theo Bezos là học từ những thất bại. Sự thật là hầu hết mọi thất bại của Bezos đều đến từ kết quả của việc hiểu sai về các yếu tố tạo dựng thành công: thay vì tập trung đầu tư vào các công ty có mô hình kinh doanh tương tự Amazon, Bezos lại chọn con đường ngược lại.
Khi những ý tưởng thất bại, bài học được rút ra là lúc Bezos vững vàng đứng lên tái cấu trúc lại Amazon mạnh mẽ hơn vào thế kỷ 21.

Amazon hiện có tổng giá trị vào khoảng 150 tỷ USD và là mạng thương mại trực tuyến lớn thứ hai thế giới, sau Alibaba.

Thứ Ba, 2 tháng 12, 2014

5 cách Amazon sẽ khiến cả thế giới phải nể

Cũng như các gã khổng lồ công nghệ khác như Google, Facebook và Apple, Amazon được đánh giá là một trong những công ty công nghệ không bao giờ sợ sự thay đổi, phát triển và thử thách những cơ hội mới.

Với những thành tích đã đạt được trong suốt 20 năm qua cùng một tương lai rộng mở, Amazon đang khiến cho cả thế giới kinh ngạc.

Dưới đây là 5 cách Amazon sẽ tiếp tục gây nên những bất ngờ và "nể sợ" cho thế giới. 

Điện thoại thông minh 3D Amazon

Jeff Bezos là một doanh nhân có tầm nhìn chiến lược xuất sắc. Vì vậy, ông sẽ không dễ dàng nhìn các đối thủ Apple, Samsung và HTC liên tục tung ra những dòng điện thoại thông minh mang lại doanh thu hàng tỷ đô la. Tuy nhiên, Jeff Bezos cho rằng cách làm của ông sẽ phải khác hơn đối thủ, nên ông quyết định tung ra phiên bản điện thoại thông minh 3D đầu tiên trên thế giới.

Ngoài việc có tất cả các tính năng cơ bản và tính năng bổ sung, chiếc điện thoại này còn có khả năng chụp ảnh 3D với 4 camera cảm biến tại 4 góc máy cho phép theo dõi mọi chuyển động của người dùng và tạo ra một hình ảnh 3D trên màn hình. Các cảm biến này cũng có thể hoạt động như máy ảnh và chúng có thể được sử dụng để xác định các số đo 3 chiều của bất kỳ đối tượng nào ở phía trước của nó.

Hãy tưởng tượng nếu tính năng này được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau, đặc biệt là y học để truyền tải hình ảnh 3D di động. Khi đó, một bệnh nhân có thể nói chuyện với bác sĩ của mình thông qua điện thoại và ngay lập tức truyền được hình ảnh, kích thước của một dấu hiệu lạ có thể báo trước ung thư…

Hoặc thậm chí trong lĩnh vực kiến trúc, tính năng này có thể giúp các kỹ sư giao tiếp với nhau trong không gian 3D… 

Nâng cao dịch vụ web của Amazon
Amazon hiện có tới 78 triệu người dùng ở Mỹ và hơn 225 triệu khách hàng trên toàn thế giới. Điều đó khiến cho khối lượng đơn đặt hàng và yêu cầu xử lý mỗi ngày của hệ thống web Amazon là vô cùng lớn.

Để được thành công như hiện nay, đội ngũ lập trình viên và nhân viên kỹ thuật của Amazon đã nổ lực rất nhiều. Hơn thế nữa, Jeff Bezos đang đặt mục tiêu nâng cao chất lượng các dịch vụ Web của Amazon lên thành mục tiêu hàng đầu để mở rộng trong tương lai.

Trong một cuộc phỏng vấn gần đây với Charlie Rose (người dẫn chương trình kỳ cựu của kênh CBS, Mỹ) Jeff Bezos đã tiết lộ rằng công ty của ông đang làm việc với một số công ty công nghệ lớn và thậm chí còn đang xây dựng một dịch vụ điện toán đám mây riêng cho CIA.

Nói cách khác, thay vì chỉ dừng lại ở việc “bá chủ” thị trường bán lẻ trực tuyến, Amazon còn muốn là “hậu trường” của một số công ty lớn nhất và phức tạp trên thế giới, hỗ trợ công nghệ và lập trình để đảm bảo tất cả mọi thứ vận hành tốt.

Tối ưu hóa dịch vụ giao hàng của Amazon
Amazon vốn nổi tiếng với dịch vụ giao hàng nhanh chóng, và trong tương lai thời gian giao hàng này còn có thể rút ngắn xuống tối đa vài giờ cho bất kỳ sản phẩm đặt hàng trực tuyến nào bất chấp mọi trở ngại địa lý. Vậy họ sẽ thực hiện điều này bằng cách nào?

Jeff Bezos cho biết, điều này sẽ dễ dàng thực hiện nếu máy bay giao hàng không người lái của Amazon được đưa vào hoạt động chính thức tại tất cả các hệ thống phân phối của Amazon trên toàn thế giới.

Amazon hiện có gần một trăm nhà kho lớn trên toàn thế giới cho phép thực hiện các đơn đặt hàng một cách nhanh chóng hoàn thành. Ngoài ra, Amazon còn thiết lập quan hệ với các cửa hàng ở nhiều địa phương, kể cả vùng nông thôn để đảm bảo cung cấp tất cả các mặt hàng, bao gồm cả các thực phẩm tươi sống.

Đẩy mạnh sản xuất các bộ phim truyền hình dựa trên các nguyên tác nổi tiếng

Khi HBO và Netflix thành công trong việc chuyển thể các tác phẩm kinh điển như Game of Thrones, True Detective, House of Cards and Orange is the New Black thành những serie phim truyền hình ăn khách, cũng là lúc Amazon nhìn thấy “cơ hội vàng” từ lĩnh vực kinh doanh này.

Amazon On-Demand hiện đang tích cực làm việc để cho ra đời một số chương trình mới, bao gồm The After (một bộ phim khoa học viễn tưởng), serie mới của X-files (nhà sản xuất Chris Carter), Bosch (một bộ phim về đề tài trinh thám dựa trên tiểu thuyết của Michael Connelly với nhân vật chính là một phóng viên ở Los Angeles), Mozart in the Jungle (một bộ phim hài ngắn về nhạc sĩ thiên tài Mozart với sự tham gia Gael Garcia Bernal), và Transparent (một chương trình với sự tham gia Jeff Tambor nói về quá trình trưởng thành của trẻ em và mối quan hệ của chúng với cha mẹ)...

Mặc dù, các bộ phim cũng như chương trình mà Amazon sản xuất chưa chính thức lên sóng nhưng nhiều người kỳ vọng sẽ tạo nên “làn sóng mới” cho ngành công nghiệp truyền hình.

Kiểm soát tất cả các sách bạn đã đọc

Amazon khởi nghiệp vào năm 1994 với công việc kinh doanh chủ yếu là bán sách. Và hơn hai thập kỷ qua, Amazon đã vươn lên khẳng định vị trí nhà cung cấp sách trực tuyến số 1 thế giới. Tất nhiên, công ty này sẽ không bao giờ muốn đánh mất vị trí này. Vì vậy, họ sẽ làm mọi cách để duy trì vị trí thống trị của mình.

Đột phá gần đây nhất của Amazon là việc tạo ra phần cứng độc quyền (Kindle, Fire phone) hỗ trợ dễ dàng hơn cho khách hàng trong việc mua tài liệu mua qua Amazon.

Gần đây, Amazon đã vướng vào một cuộc tranh chấp với nhà xuất bản cuốn sách Hachette. Sau khi thất bại trong các cuộc đàm phán, Amazon phải viện đến chiến thuật khó coi như gợi ý đầu sách thay thế khi khách hàng đặt mua sách từ tác giả Hachette và thậm chí đôi khi hãng này còn nói với khách hàng rằng việc giao các cuốn sách của tác giả Hachette sẽ mất vài tuần.

Tuy nhiên, đó chỉ là một vài sự cố kinh doanh không mong muốn, còn trong vài thập kỷ tới, Amazon sẽ làm bất cứ điều gì có thể thực hiện các đơn hàng bán lẻ với các cuốn sách được đặt mua. 

Thứ Tư, 26 tháng 11, 2014

Tuổi 25 của các doanh nhân nổi tiếng

Khi 25 tuổi, Giám đốc điều hành (CEO) Lloyd Blankfein của ngân hàng Goldman Sachs là một luật sư không yêu nghề, trong khi CEO Marissa Mayer của Yahoo đang làm việc ở Google với tư cách là nhân viên thứ 20 của công cụ tìm kiếm này.


Có nhiều người biết mình muốn làm gì từ khi còn rất trẻ và dồn mọi tâm trí, sức lực vào công việc đó. Một số khác đến lúc nào đó chợt nhận ra mình thuộc về một lĩnh vực khác, và thay đổi công việc cho tới khi đạt được thành công.

Trang Business Insider đã điểm lại xem những doanh nhân nổi tiếng như Warren Buffett, Mark Zuckerberg, Larry Ellison… đã làm gì khi họ 25 tuổi.


Lloyd Blankfein, CEO ngân hàng Golmand Sachs
Blankfein không khởi nghiệp ở lĩnh vực tài chính, mà ban đầu ông là một luật sư. Năm 24 tuổi, ông nhận bằng luật Đại học Havard và vào làm tại công ty luật Donovan Leisure. “Khi đó tôi cực quê mùa”, Blankfein có lần thổ lộ trên tạp chí Fortune. Ở thời điểm đó, Blankfein nghiện thuốc lá nặng và đôi khi chơi bạc.

Dù đang có công việc khá tốt ở công ty luật, ông quyết định từ bỏ lĩnh vực này để chuyển sang làm trong ngành ngân hàng đầu tư vào năm 27 tuổi. Hiện ông đang giữ vai trò CEO của ngân hàng đầu tư nổi tiếng thế giới Goldman Sachs.

Marissa Mayer, CEO Yahoo

Tuổi 25 của các doanh nhân nổi tiếng
Năm 24 tuổi, Mayer trở thành nhân viên thứ 20 của Google, đồng thời là kỹ sư nữ đầu tiên của công ty này. Mayer đã làm việc cho Google 13 năm trước khi trở thành CEO của Yahoo.

Trong một cuộc trả lời phỏng vấn, Mayer cho biết, khi bà mới vào làm ở Google, công ty này chưa có những trụ sở hoành tráng như hiện này. “Trong các cuộc phỏng vấn xin việc của tôi tại Google vào tháng 4/1999, Google là một công ty có 7 người. Tôi đến và được phỏng vấn tại một chiếc bàn chơi bóng bàn, đồng thời cũng là bàn họp của công ty…”


Nhà đầu tư huyền thoại Warren Buffett

Tuổi 25 của các doanh nhân nổi tiếng
Ngoài 20 tuổi, Buffett làm công việc thu hút vốn đầu tư cho công ty Buffett-Falk & Co ở thành phố quê hương Omaha. Năm 26 tuổi, ông chuyển tới New York để trở thành một nhà phân tích chứng khoán. Cùng năm đó, ông thành lập công ty Buffett Partnership ở Omaha.

Với Buffett, New York không phải là nơi dành cho ông. “Ở một số nơi, tôi rất dễ bị mất tầm nhìn. Nhưng tôi thấy mình dễ giữ được tầm nhìn ở một nơi như Omaha”, Buffett từng nói trên kênh NBC.


CEO Ursula Burns của hãng máy in Xerox

Tuổi 25 của các doanh nhân nổi tiếng
Vượt qua tuổi thơ nghèo khó trong một khu nhà ở xã hội tại New York, bà Burns học lấy bằng kỹ sư cơ khí từ Polytechnic Institute thuộc Đại học New York. Tiếp đó bà lấy bằng thạc sỹ Đại học Columbia. Năm 1980, khi 22 tuổi, Burns vào thực tập tại hãng Xerox, bắt đầu sự nghiệp trọn đời tại hãng này. Một năm sau đó, bà chính thức vào làm việc tại công ty, nhanh chóng được thăng chức và đế n năm 2009 thì trở thành CEO.

Mark Zuckerberg, CEO Facebook

Tuổi 25 của các doanh nhân nổi tiếng
Đến năm 25 tuổi, Mark Zuckerberg đã có 5 năm vất vả gây dựng Facebook. Vào năm 2009 - thời điểm mà sao Zuckerberg tròn 25 tuổi, Facebook đã lần đầu tiên có dự trữ tiền mặt và đạt mức 300 triệu người sử dụng. Khi đó, Zuckerberg rất hứng khởi nhưng nói rằng, tất cả mới chỉ bắt đầu, với câu nói trên Facebook rằng: “điều mà chúng tôi nghĩ tới là chúng tôi mới chỉ bắt đầu mục tiêu kết nối mọi người”. Năm sau đó, sao công nghệ trẻ này được tạp chí Time bầu chọn là Nhân vật của năm (Person of the Year).

Tỷ phú Richard Branson

Tuổi 25 của các doanh nhân nổi tiếng
Năm 20 tuổi, Branson mở cửa hiệu thu âm đầu tiên, tiếp đó là một phòng thu khi ông 22 tuổi, và tung ra thương hiệu ghi âm Virgin Records lúc 23 tuổi. Năm ông 30 tuổi, công ty của ông đã có tầm phủ sóng quốc tế.

Phát biểu trên tờ Entrepreneur, Branson cho biết, những năm tháng đầu tiên khởi nghiệp của ông đầy khó khăn. “Tôi vẫn nhớ như in những ngày đó. Đối với tôi, bắt đầu gây dựng một doanh nghiệp nhỏ khó hơn nhiều so với việc sở hữu một công ty với hàng nghìn nhân viên và 400 công ty con hiện nay. Xây dựng một doanh nghiệp từ con số 0 đòi hỏi làm việc 24h mỗi ngày, 7 ngày mỗi tuần, những vụ ly dị, bởi không thể có thời gian dành cho gia đình. Công việc rất cực nhọc và chỉ có thể được miêu tả bằng từ ‘sống còn”, ông nói.


Sheryl Sandberg, Giám đốc hoạt động (COO) của Facebook

Tuổi 25 của các doanh nhân nổi tiếng
Năm 25 tuổi, Sandberg đã có trong tay tấm bằng Đại học Harvard và làm việc tại Ngân hàng Thế giới (WB) dưới sự lãnh đạo của người thầy cũ và người dẫn dắt, Larry Summers. Về sau, ông Summers đã có thời gian đảm nhiệm cương vị Bộ trưởng Bộ Tài chính Mỹ. Tiếp đó, Sandberg trở lại Harvard để học tiếp lấy bằng thạc sỹ quản trị kinh doanh (MBA) vào năm 1995.

Sau khi đã có bằng MBA, Sandberg tới làm việc tại McKinsey. Năm 29 tuổi, bà trở thành chánh thư ký của Summers khi ông trở thành người đứng đầu Bộ Tài chính Mỹ dưới thời Tổng thống Bill Clinton. Sandberg cho biết, chính thời gian học bằng MBA ở Havard là lúc bà nhận ra được tiềm năng của Internet. Trước khi đầu quân cho Facebook, bà đã có thời gian làm Phó chủ tịch phụ trách hoạt động toàn cầu cho Google.


Eric Schmidt, Chủ tịch điều hành Google

Tuổi 25 của các doanh nhân nổi tiếng
Năm 27 tuổi, sau 7 năm học sau đại học tại Đại học California, Berkeley, Schmidt đã có trong tay bằng thạc sỹ và tiến sỹ về mạng máy tính và quản lý phát triển phần mềm.Vào mùa hè các năm đó, Schmidt làm việc tại phòng thí nghiệm Xerox PARC nổi tiếng. Chính tại đây, ông đã gặp được nhà sáng lập của Sun Microsystems và có được công việc đầu tiên trong một doanh nghiệp.

Schmidt nhớ lại, trong những năm đầu tiên làm công việc của một lập trình viên, “tất cả chúng tôi đều không ngủ vào ban đêm vì đó là lúc máy tính chạy nhanh hơn”.


Howard Schultz, CEO hãng cà phê Starbucks

Tuổi 25 của các doanh nhân nổi tiếng
Sau khi tốt nghiệp Đại học Bắc Michigan, Schultz vào làm nhân viên bán hàng cho Xerox. Năm 26 tuổi, với thành công tại Xerox, ông được một công ty Thụy Điển có tên Hammerplast chuyển sản xuất máy pha cà phê mời tới làm việc. Trong quá trình làm việc cho Hammerplast, Schultz gặp những cửa hiệu Starbucks đầu tiên ở Seattle và gia nhập công ty này vào năm 29 tuổi.

Trong cuốn “Pour Your Heart Into It”, Schultz đã viết về thời gian ông làm việc ở Xerox: “Ở đó, tôi đã học được nhiều về thế giới công việc và kinh doanh hơn so với ở trường đại học. Họ huấn luyện tôi về bán hàng, marketing, các kỹ năng thuyết trình, và tôi bước ra với một sự tự tin lớn…”


Tỷ phú Nga Roman Abramovich

Tuổi 25 của các doanh nhân nổi tiếng
Khi còn nhỏ, Abramovich là một đứa trẻ mồ côi và được người bác nuôi dạy. Năm 21 tuổi, ông gia nhập thị trường chợ đen nhờ số tiền do cha mẹ vợ tài trợ. Đầu thập niên 1990, ông đã thành lập và bán lại khoảng 20 công ty. Năm 26 tuổi, ông bị bắt giữ vì tội danh xâm phạm tài sản nhà nước. Tuy nhiên, đến năm 35 tuổi, ông trở thành Thống đốc bang Chukotka của Nga. 
 Theo Business Insider

Bài đăng phổ biến