Hiển thị các bài đăng có nhãn thị trưởng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn thị trưởng. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 6 tháng 12, 2014

Michael Bloomberg – vị thị trưởng 'quái chiêu' của New York

Ngày 5/11/2013, người dân thành phố New York, Mỹ đi bầu thị trưởng mới sau 12 năm dưới sự lãnh đạo của tỷ phú Michael Bloomberg, một thị trưởng đã làm rất nhiều điều để giúp thành phố này “lột xác.

Trong một căn phòng làm việc tại tòa thị chính của Michael Bloomberg, gần chiếc đồng hồ đếm ngược những ngày cuối cùng ông giữ chức Thị trưởng thành phố New York là một bức tranh biếm họa về ông giống một chiếc máy bay trực thăng. Treo trên cửa sổ buồng lái chiếc trực thăng là một chiếc khăn tắm thêu chữ “Bermuda”.

Nhờ vào đế chế tài chính mà ông tạo dựng, Bloomberg đã trở thành một trong những người đàn ông giàu nhất thế giới: Tạp chí Forbes ước tính khối tài sản của ông lên tới 31 tỷ USD. 

Lẽ tất nhiên, Bloomberg sở hữu một chiếc trực thăng thật sự và có một căn nhà nghỉ cuối tuần ở Bermuda. Vấn đề chỉ là không ai biết bao lâu một lần, ông bay tới hòn đảo đó để chơi golf. 
Tỷ phú, Thị trưởng New York Michael Bloomberg.
Mặc dù vị thị trưởng đã đem tới sự minh bạch cho cơ quan chính quyền thành phố một thời rất “tối tăm” (khẩu hiệu yêu thích của ông Bloomberg là: “Chúng ta tin tưởng vào Chúa. Còn với bất kỳ ai khác, cần yêu cầu họ cung cấp số liệu”), nhưng ông không cảm thấy cần thiết phải chia sẻ đời sống riêng tư của mình với các cử tri. 

Dưới sự lãnh đạo của Thị trưởng Bloomberg, người dân thành phố New York đã trải qua hơn 10 năm nhiều biến cố với thời kì hậu tấn công khủng bố 11/9, đổ vỡ tài chính và “siêu bão” Sandy. Người dân New York đã bầu Michael Bloomberg 3 lần trong đó lần đầu tiên bầu ông làm Thượng nghị sĩ đảng Cộng hòa và bầu ông làm Thượng nghị sĩ độc lập sau khi ông tiến hành các chiến dịch tranh cử vô cùng tốn kém và đầy gay cấn (ông Bloomberg đã bỏ ra hơn 100 triệu USD cho chiến dịch tái tranh cử cuối cùng). 

Là tỷ phú, Bloomberg không có bất kì hứng thú nào với việc tham nhũng, ông chưa bao giờ xin tiền quyền góp cho các chiến dịch tranh cử của mình. Sự giàu có cũng giúp ông không phải “xin xỏ” sự yêu quí từ các cử tri của một thành phố nổi tiếng hung hăng. Bloomberg là một giám đốc điều hành chứ không phải một nhà lãnh đạo tìm mọi cách để lôi cuốn cử tri. 

Theo qui định, Michael Bloomberg đã hết thời hạn được tái tranh cử và ngày tại vị của ông chỉ còn vài tuần nữa. Dưới sự lãnh đạo của ông, thành phố New York đã an toàn hơn và sạch sẽ hơn. Nỗ lực giúp người dân New York khỏe mạnh hơn (ví dụ như cấm hút thuốc lá nơi công cộng, tính lượng ca lo cho các món ăn trên thực đơn nhà hàng) đã được đón nhận dù ban đầu bị một số người phản đối. Các trường học được cải thiện mặc dù chưa đều nhau. Tuy vậy, thu nhập thực tế vẫn chưa tăng lên và khoảng cách giàu nghèo đang mở rộng ở mức đáng báo động.  

Một câu hỏi được đặt ra là liệu phong cách lãnh đạo của ông Bloomberg theo chủ nghĩa duy lý chủ yếu dựa trên dữ liệu và ngân sách tự kiếm có đem lại bài học lớn cho chính trường Mỹ hay không. Đôi khi ông Bloomberg được gọi là một chính trị gia theo chủ trương ôn hòa, nhưng điều đó cũng không hẳn chính xác. Ông là người có tư tưởng cấp tiến xét về các vấn đề xã hội như quyền của người đồng tính hay sự ngu xuẩn của tình trạng số tù nhân Mỹ đang quá cao. Nhưng ông cũng khiến những người theo chủ nghĩa cấp tiến nổi giận khi ông bảo vệ chính sách cho phép cảnh sát thường xuyên “sờ gáy” giới thanh niên da đen và nam giới gốc Hispanic. Chính sách “chặn và lục soát” đã làm giảm đáng kể tội phạm và ông phấn khởi nói rằng: “Chính sách dọa nạt bọn trẻ để chúng không mang theo súng bên mình là một phần của chính sách này”. Ngoài ra thành phố còn có những chương trình hỗ trợ thanh niên của các nhóm thiểu số và Bloomberg cho biết quĩ của ông đã tài trợ cho các chương trình này 30 triệu USD. 

Sự kết hợp giữa tư tưởng cấp tiến, tư tưởng bảo thủ và lòng nhân ái rất phù hợp với một thành phố như New York. Nhưng phong cách đó không được cử tri ủng hộ ở cấp chính trường liên bang Mỹ - chính Bloomberg cũng đã âm thầm rút lui khi từ bỏ ý nghĩ chạy đua chức tổng thống vào năm 2008. 
 
Hiện người dân New York đã sẵn sàng đón nhận người lãnh đạo mới. Thị trưởng sắp mãn nhiệm Bloomberg nói rằng nhiều người Mỹ “thể hiện quan điểm của mình bằng hành động”; họ du lịch tới thành phố New York với số lượng kỉ lục, đưa con cái vào học ở các trường công và nộp đơn xin việc vào văn phòng thành phố với danh sách “dài hàng tỉ km”. 

Ông Bloomberg cũng cho rằng, ngay cả tình trạng thu nhập bất bình đẳng cũng là kết quả của nỗ lực thu hút giới “siêu giàu”, những người thường xuyên lui tới các cửa hiệu và nhà hàng đồng thời đóng góp nhiều thuế cho chính quyền. Nhưng ngày bầu cử 5/11 chắc chắn sẽ là ngày chiến thắng của nhân vật đảng Dân chủ có tư tưởng cấp tiến hơn, Bill de Blasio, người vẫn điều hành chiến dịch chống Bloomberg, “thề” sẽ tăng thuế thu nhập đối với giới siêu giàu và đánh vào tâm lý lo lắng của cử tri về một thành phố lộng lẫy mà nhiều người cho rằng New York không thể kham nổi. 

Bên ngoài New York, giới bảo thủ nhìn nhận Bloomberg là tai họa, một lãnh đạo xấu xa chỉ biết rầy la, một kẻ bỏ hàng triệu USD cho các chiến dịch chính trị để lén gán những giá trị của một thành phố lớn vào tư tưởng tầng lớp trung lưu Mỹ. 

Các chương trình của ông Bloomberg từ cải cách giáo dục cho tới kiểm soát sử dụng súng, đã đẩy ông vào các cuộc tranh cãi ở qui mô toàn nước Mỹ. 
Thị trưởng Bloomberg và nhóm “Các thị trưởng chống lại nạn sử dụng súng trái phép”.
Không phải lúc nào tiền của nhà tài phiệt này cũng được chào đón. Thống đốc bang Colorado và là đảng viên đảng Dân chủ, John Hickenlooper, vừa bóng gió rằng ông không cần tiền của nhóm“Các thị trưởng chống lại nạn sử dụng súng trái phép” với sự tài trợ của Bloomberg để chống lại các chính trị gia bảo vệ quyền sử dụng súng bởi lẽ chính trường ở bang Colorado không thích bên ngoài “nhúng mũi” vào chuyện nội bộ của bang này. 

Những người ủng hộ thì cho rằng ông Bloomberg là người đi tiên phong của chính trị kiểu mới. Những cuốn sách như cuốn “Nếu các thị trưởng lãnh đạo thế giới: Các quốc gia đang chệnh choạc và các thành phố đang trỗi dậy” cho rằng các thành phố đã có quyền lực tuyệt đối trong việc giải quyết bế tắc do sự đối đầu giữa 2 đảng (Cộng hòa và Dân chủ). Đối với những người ủng hộ Bloomberg, các thành phố đang khuyến khích cách giải quyết vấn đề một cách thực tế bởi lẽ các thị trưởng đã được thêm quyền giải quyết các vấn đề quá rõ như thu gom rác, chống tội phạm và cải thiện các trường học. Họ trích câu nói của Fiorello LaGuardia, cựu thị trưởng New York rằng: “Không có cách sửa cống thoát nước nào theo kiểu Cộng hòa hay Dân chủ cả”. 

Những người ủng hộ mong muốn Bloomberg mở rộng vai trò của mình ra toàn cầu với tư cách là người bảo trợ cho các thị trưởng, thông qua các cơ quan như C40, một mạng lưới các thành phố lớn trên thế giới đang từng bước làm giảm lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính. Có vẻ ông Bloomberg sẽ đi theo mong muốn của những người ủng hộ. Ông cho rằng chính quyền quốc gia và chính quyền bang phải “mạnh tay” với những nhiệm vụ như phân bổ lại tài sản từ người giàu có sang người nghèo. Ông cũng cho rằng thủ đô Washington đã cho thấy tình trạng “sụp đổ, đóng cửa và sự chia rẽ “vô phương cứu chữa” giữa hai đảng (Dân chủ và Cộng hòa)”. Trong khi đó, “ các thị trưởng có năng lực trên khắp nước Mỹ đang làm những việc có tính đổi mới”. 

Nhưng không phải tất cả các thị trưởng đều làm tốt tốt, hay không bị “đàm tiếu” về phân phối thu nhập. Dù ai trở thành thị trưởng New York đi nữa thì các nghiệp đoàn sẽ đòi phải kí các hợp đồng mới, hào phóng hơn. 

Sự thực thì các thành phố năng động của Mỹ đã thu hút nhiều người giàu có sẵn sàng san sẻ một chút tài sản của mình để việc đi lại trên các con phố trở nên an toàn thay vì phải sống ở vùng ngoại ô “kín cổng cao tường”. Nhưng đó là vấn đề về chính trị chứ không phải là quá trình điều hành, quản lý.
Ông Bloomberg đã làm được rất nhiều điều cho thành phố New York. Có lẽ người Mỹ nên ăn mừng nếu ông ấy dành những năm tháng tiếp theo giúp các thành phố khác thay vì đi chơi golf. 

Theo Infonet

Từ nhân viên đếm tiền tới thị trưởng New York

Chỉ trong vòng có 20 năm, Bloomberg đã biến 10 triệu USD tiền bồi thường thôi việc từ nhà băng giờ không còn tồn tại này thành hãng tin tài chính Bloomberg trị giá nhiều tỷ USD. Ông còn là thị trưởng New York, và là một trong những tỷ phú có ảnh hưởng nhất thế giới. 

Trong hành trình nhiều thăng trầm đó, Bloomberg, người giàu thứ 11 tại Mỹ hiện nay, còn là một nhà từ thiện tích cực và một phi công cừ khôi.

Theo trang Business Insider, Michael Bloomberg sinh vào đúng ngày Valentine 14/2/1942 trong một gia đình trung lưu ở ngoại ô Boston, bang Masachusetts. Ông trải qua những năm tháng thơ ấu ở thành phố Medford, cũng thuộc tiểu bang này. Cha ông phải làm việc 7 ngày mỗi tuần với nghề kế toán tại một công ty sữa địa phương để nuôi sống gia đình gồm 4 người.

Bloomberg tốt nghiệp Đại học Johns Hopkins vào năm 1964 với tấm bằng cử nhân về kỹ thuật điện. Sau đó, ông tiếp tục học lên và nhận bằng MBA từ Đại học Harvard. Vào năm 1966, Bloomberg nộp đơn xin vào trường đào tạo sỹ quan không quân nhưng không được nhận vì ông có bàn chân phẳng.
Năm 1966, Bloomberrg được một ngân hàng đầu tư có tên Salomon Brothers ở New York nhận vào làm với mức lương khởi điểm 9.000 USD/tháng.

Ban đầu, Bloomberg làm việc trong hầm chứa tiền của Salomon. Trong cuốn sách “Bloomberg on Bloomberg”, ông kể lại: “Quần áo lót của chúng tôi đẫm mồ hôi trong hầm chứa tiền của ngân hàng chẳng có lấy một chiếc điều hòa không khí. Thi thoảng chỉ có một bịch 6 lon bia để giải tỏa cái nóng. Mỗi buổi chiều, chúng tôi phải đếm số trái phiếu và chứng chỉ cổ phiếu trị giá hàng tỷ USD được gửi vào ngân hàng để làm tài sản thế chấp cho các khoản vay qua đêm. Đến thập niên 1980, thì công việc như thế đã trở nên cổ xưa như chiếc xe ngựa kéo”.

Dần dần, Bloomberg thăng tiến lên những vị trí cao hơn và trở thành một nhà giao dịch trái phiếu và đối tác góp vốn ở Salomon Brothers vào năm 1972. Ở thời điểm đó, ông làm việc 12 giờ mỗi ngày, 6 ngày mỗi tuần.

Vào cuối thập niên 1970, ông đảm nhiệm vị trí người đứng đầu bộ phận giao dịch cổ phiếu. Năm 1976, ông kết hôn với người vợ đầu tiên, bà Susan Brown. Họ có hai người con là Emma và Georgina. Tuy nhiên, cặp đôi đã ly dị vào năm 1993.

Năm 1979, CEO John Gutfreund của Salomon Brothers yêu cầu Bloomberg thôi vị trí quản lý mảng giao dịch cổ phiếu để tới làm việc ở bộ phận hệ thống máy tính khi đó còn non trẻ. Đây bị coi là một sự giáng chức đối với Bloomberg. Tuy nhiên, về sau, Bloomberg có lẽ phải cảm ơn Gutfreund vì những kinh nghiệm mà ông đã thu thập được ở nhiệm vụ mới này.

Vào ngày 31/7/1981, mọi thứ ở Salomon Brothers đã thay đổi. Đêm đó, các thành viên của ngân hàng này được mời tới một cuộc họp và được thông báo, ngân hàng sẽ sáp nhập vào một công ty giao dịch hàng hóa có tên Phibro Corporation. Phibro là một công ty đại chúng, nên việc sáp nhập vào công ty này đồng nghĩa với việc Salomon cũng sẽ là một công ty đại chúng, và nhiều trong số thành viên của Salomon sẽ trở nên cực giàu. Tất cả đã ăn mừng trong đêm đó.

Nhưng một bất ngờ nữa đã xảy ra. Vào ngày hôm sau, 1/8/1981, Bloomberg có cuộc họp với CEO John Gutfreund và tại cuộc họp này, ông được yêu cầu phải rời khỏi Salomon. Ở tuổi 39, Bloomberg rời khỏi ngân hàng này với gói bồi thường thôi việc 10 triệu USD gồm tiền mặt và trái phiếu chuyển đổi.

Sau khi chính thức rời Salomon vào ngày 30/9/1981, Bloomberg đứng ra thành lập một công ty công nghệ thông tin riêng. Ông muốn đem tới sự minh bạch và hiệu quả cho những người mua và bán các công cụ tài chính.

Bloomberg đã chi 4 triệu USD tiền túi từ số tiền bồi thường thôi việc 10 triệu USD mà Salomon Brothers trả cho ông để phát triển một hệ thống máy tính nhằm cung cấp thông tin về thị trường trái phiếu, vận dụng những kiến thức về kỹ thuật điện mà ông học được từ Đại học Johns Hopkins. Ban đầu, công ty của Bloomberg có tên là Innovative Market Solutions, bao gồm ông và 4 người khác hợp tác để tạo ra và lập trình một thiết bị cuối máy tính (Bloomberg Terminal) cho phép các nhà giao dịch cập nhật thông tin về thị trường trái phiếu kho bạc Mỹ.

Vào năm 1982, khách hàng đầu tiên của Bloomberg là ngân hàng Merill Lynch đã đặt mua vào lắp đặt 22 thiết bị cuối máy tính MarketMaster. Bên cạnh đó, Merrill Lynch cũng chi 30 triệu USD để đổi lấy cổ phần 30% trong công ty của Bloomberg. Văn phòng của Bloomberg hiện nay ở New York có 22 bể cá, tượng trưng cho 22 thiết bị cuối máy tính đầu tiên bán được này.

Thập niên 1980 là thời gian ăn nên làm ra của công ty mà Bloomberg thành lập. Năm 1986, công ty này đổi tên từ Innovative Market Systems thành Bloomberg L.P. Đến năm 1987, Bloomberg đã bán được thiết bị cuối máy tính thứ 5.000 và thiết lập nền tảng cho các hệ thống giao dịch của riêng mình. Năm 1989, Bloomberg mua lại 1/3 số cổ phần 30% mà Merrill Lynch nắm giữ với giá 200 triệu USD. Thương vụ này định giá Bloomberg ở mức 2 tỷ USD chỉ 8 năm sau ngày thành lập công ty.

Thập niên 1990 chứng kiến một loạt bộ phận truyền thông khác được thành lập trong Bloomberg L.P., bao gồm mạng tin tức Bloomberg Business News, đài phát thanh Bloomberg Radio, kênh truyền hình Bloomberg TV và tạp chí Bloomberg Markets Magazine.

Thiết bị Bloomberg Terminal thứ 100.000 đã được lắp đặt vào năm 1998. Với mức phí 1.500 USD/tháng mỗi thiết bị, công ty tư nhân của Bloomberg đã thu về khoản lợi nhuận khổng lồ. Đến thời điểm này, Bloomberg L.P. đã có văn phòng khắp thế giới và hiện diện khắp nơi trên các thị trường tài chính lớn. Hiện tại, công ty này đã có hơn 310.000 đăng ký sử dụng dịch vụ tin tức và thông tin tài chính và 15.000 nhân viên trên phạm vi toàn cầu.

Khi đã có sức mạnh tài chính, tỷ phú Bloomberg bắt đầu xuất hiện trên chính trường. Năm 2001, ông quyết định ra tranh cử chức thị trưởng thành phố New York với tư cách một ứng viên của đảng Cộng hòa. Trước đó, ông thuộc đảng Dân chủ, nhưng quyết định chuyển đảng với mong muốn có cơ hội giành thắng lợi lớn hơn.

Ít người xem Bloomberg có cơ hội thắng cử, nhưng vào năm 2002, ông đã nhậm chức thị trưởng New York sau khi chi ra 74 triệu USD để vận động tranh cử. Ông chỉ nhận mức lương 1 USD/năm cho chức vụ này và đã nỗ lực hết sức để tái thiết khu vực bị phá hủy của New York trong sự kiện tấn công khủng bố ngày 11/9. Trở thành thị trưởng New York, Bloomberg thôi chức Giám đốc điều hành (CEO) của công ty và cử Lex Stanwick vào vị trí này.

Nhiều người cho rằng, sau vụ 11/9, thành phố New York sẽ đối mặt với hàng loạt thách thức như tội phạm gia tăng, các doanh nghiệp rời đi, và thành phố sẽ mất nhiều năm để hồi phục. Tuy nhiên, kể từ khi nhậm chức vào năm 2002, thị trưởng Bloomberg đã giảm số người xin trợ cấp xã hội được 25%, tỷ lệ tốt nghiệp phổ thông trung học tăng 40%, tội phạm giảm 35%. Từ tháng 10/2009 tới nay, số việc làm mới được tạo thêm trong khu vực tư nhân ở New York nhiều gần gấp đôi so với 10 thành phố lớn nhất ở Mỹ sau New York gộp lại.

Hiện Bloomberg đang ở trong nhiệm kỳ thị trưởng New York thứ ba. Trong nhiệm kỳ đầu tiên của Bloomberg, tỷ lệ ủng hộ ông đã có lúc giảm xuống còn 24%. Tuy nhiên, tỷ lệ này đã hồi phục nhanh chóng và với chiến dịch tranh cử tiêu tốn 85 triệu USD, Bloomberg đã trúng cử nhiệm kỳ thứ hai. Vào năm 2007, Bloomberg tuyên bố từ bỏ đảng Cộng hòa và trở thành một chính trị gia độc lập. Cuộc chạy đua tranh cử nhiệm kỳ thị trưởng thứ ba của Bloomberg tiêu tốn 90 triệu USD, nhưng đã đưa ông trở thành 1 trong 4 thị trưởng New York tại vị lâu nhất.

Tuy chỉ nhận lương 1 USD từ chức thị trưởng New York, Bloomberg sở hữu giá trị tài sản ròng 22 tỷ USD và là người giàu thứ 11 ở Mỹ theo xếp hạng của tạp chí Forbes. Ông cũng được cho là người giàu nhất ở New York.

Tính đến nay, Bloomberg đã dành 2,4 tỷ USD cho hoạt động từ thiện trong các lĩnh vực chăm sóc sức khỏe cộng đồng, bảo vệ môi trường, phát huy các sáng kiến của chính phủ, nghệ thuật và giáo dục. Riêng trong năm 2011, ông đã tài trợ 330 triệu USD cho các hoạt động này. Bloomberg đã tài trợ nhiều cho Đại học Princeton. Trường này đã lấy tên con gái ông là Emma B. Bloomberg để đặt tên cho một ký túc xá trong trường sau khi cô Emma tốt nghiệp vào năm 2001.

Giống như nhiều tỷ phú khác, Bloomberg cũng thích sắm nhiều nhà đẹp và máy bay. Ông sở hữu nhiều dinh cơ hoành tráng ở nhiều nơi trên thế giới từ thành phố nghỉ dưỡng Vail của Mỹ tớ thủ đô London của Anh.

Tại New York, ông không sống trong dinh thự dành riêng cho thị trưởng là Gracie Mansion mà ông sống ở căn nhà riêng trị giá 17 triệu USD ở khu Upper East Side. Ông còn có một dinh cơ 10,5 triệu USD ở Bermuda, một căn nhà 10 triệu USD ở London, một biệt thự 20 triệu USD ở Southampton, bang New York, và một căn hộ 1,5 triệu USD ở Vail. Tính chung, ông có 11 bất động sản khác nhau.
Vào năm 1976, Bloomberg đã học lái máy bay. Ông có niềm đam mê láy máy bay trực thăng và một khi đã lên chiếc máy bay trực thăng 6 chỗ ngồi Agusta SPA A109s trị giá 4,5 triệu USD của công ty, ông hiếm khi nhường quyền lái cho phi công chuyên nghiệp. Thậm chí, ông còn đích thân lái máy bay đưa bạn bè và đối tác từ New York tới Albany trên chiếc máy bay trực thăng của mình. Những chiếc máy bay riêng của Bloomberg được cất giữ ở sân bay Morristown Municipal Airport ở New Jersey.

Còn khi không lái máy bay, Bloomberg thường đi tàu điện ngầm ở New York. Cả Bloomberg và bạn gái hiện tại của ông, bà Diana Taylor, một người làm trong lĩnh vực ngân hàng đầu tư, thường xuyên sử dụng hệ thống tàu điện ngầm của thành phố New York. Bà Diana Taylor cho biết, bà đi tàu điện ngầm đến chỗ làm mỗi ngày, còn thị trưởng Bloomberg cũng đi tàu điện ngầm từ nhà tới Tòa thị chính.
Vneconomy 

Bài đăng phổ biến