Hiển thị các bài đăng có nhãn Michael Bloomberg. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Michael Bloomberg. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 6 tháng 12, 2014

Michael Bloomberg – vị thị trưởng 'quái chiêu' của New York

Ngày 5/11/2013, người dân thành phố New York, Mỹ đi bầu thị trưởng mới sau 12 năm dưới sự lãnh đạo của tỷ phú Michael Bloomberg, một thị trưởng đã làm rất nhiều điều để giúp thành phố này “lột xác.

Trong một căn phòng làm việc tại tòa thị chính của Michael Bloomberg, gần chiếc đồng hồ đếm ngược những ngày cuối cùng ông giữ chức Thị trưởng thành phố New York là một bức tranh biếm họa về ông giống một chiếc máy bay trực thăng. Treo trên cửa sổ buồng lái chiếc trực thăng là một chiếc khăn tắm thêu chữ “Bermuda”.

Nhờ vào đế chế tài chính mà ông tạo dựng, Bloomberg đã trở thành một trong những người đàn ông giàu nhất thế giới: Tạp chí Forbes ước tính khối tài sản của ông lên tới 31 tỷ USD. 

Lẽ tất nhiên, Bloomberg sở hữu một chiếc trực thăng thật sự và có một căn nhà nghỉ cuối tuần ở Bermuda. Vấn đề chỉ là không ai biết bao lâu một lần, ông bay tới hòn đảo đó để chơi golf. 
Tỷ phú, Thị trưởng New York Michael Bloomberg.
Mặc dù vị thị trưởng đã đem tới sự minh bạch cho cơ quan chính quyền thành phố một thời rất “tối tăm” (khẩu hiệu yêu thích của ông Bloomberg là: “Chúng ta tin tưởng vào Chúa. Còn với bất kỳ ai khác, cần yêu cầu họ cung cấp số liệu”), nhưng ông không cảm thấy cần thiết phải chia sẻ đời sống riêng tư của mình với các cử tri. 

Dưới sự lãnh đạo của Thị trưởng Bloomberg, người dân thành phố New York đã trải qua hơn 10 năm nhiều biến cố với thời kì hậu tấn công khủng bố 11/9, đổ vỡ tài chính và “siêu bão” Sandy. Người dân New York đã bầu Michael Bloomberg 3 lần trong đó lần đầu tiên bầu ông làm Thượng nghị sĩ đảng Cộng hòa và bầu ông làm Thượng nghị sĩ độc lập sau khi ông tiến hành các chiến dịch tranh cử vô cùng tốn kém và đầy gay cấn (ông Bloomberg đã bỏ ra hơn 100 triệu USD cho chiến dịch tái tranh cử cuối cùng). 

Là tỷ phú, Bloomberg không có bất kì hứng thú nào với việc tham nhũng, ông chưa bao giờ xin tiền quyền góp cho các chiến dịch tranh cử của mình. Sự giàu có cũng giúp ông không phải “xin xỏ” sự yêu quí từ các cử tri của một thành phố nổi tiếng hung hăng. Bloomberg là một giám đốc điều hành chứ không phải một nhà lãnh đạo tìm mọi cách để lôi cuốn cử tri. 

Theo qui định, Michael Bloomberg đã hết thời hạn được tái tranh cử và ngày tại vị của ông chỉ còn vài tuần nữa. Dưới sự lãnh đạo của ông, thành phố New York đã an toàn hơn và sạch sẽ hơn. Nỗ lực giúp người dân New York khỏe mạnh hơn (ví dụ như cấm hút thuốc lá nơi công cộng, tính lượng ca lo cho các món ăn trên thực đơn nhà hàng) đã được đón nhận dù ban đầu bị một số người phản đối. Các trường học được cải thiện mặc dù chưa đều nhau. Tuy vậy, thu nhập thực tế vẫn chưa tăng lên và khoảng cách giàu nghèo đang mở rộng ở mức đáng báo động.  

Một câu hỏi được đặt ra là liệu phong cách lãnh đạo của ông Bloomberg theo chủ nghĩa duy lý chủ yếu dựa trên dữ liệu và ngân sách tự kiếm có đem lại bài học lớn cho chính trường Mỹ hay không. Đôi khi ông Bloomberg được gọi là một chính trị gia theo chủ trương ôn hòa, nhưng điều đó cũng không hẳn chính xác. Ông là người có tư tưởng cấp tiến xét về các vấn đề xã hội như quyền của người đồng tính hay sự ngu xuẩn của tình trạng số tù nhân Mỹ đang quá cao. Nhưng ông cũng khiến những người theo chủ nghĩa cấp tiến nổi giận khi ông bảo vệ chính sách cho phép cảnh sát thường xuyên “sờ gáy” giới thanh niên da đen và nam giới gốc Hispanic. Chính sách “chặn và lục soát” đã làm giảm đáng kể tội phạm và ông phấn khởi nói rằng: “Chính sách dọa nạt bọn trẻ để chúng không mang theo súng bên mình là một phần của chính sách này”. Ngoài ra thành phố còn có những chương trình hỗ trợ thanh niên của các nhóm thiểu số và Bloomberg cho biết quĩ của ông đã tài trợ cho các chương trình này 30 triệu USD. 

Sự kết hợp giữa tư tưởng cấp tiến, tư tưởng bảo thủ và lòng nhân ái rất phù hợp với một thành phố như New York. Nhưng phong cách đó không được cử tri ủng hộ ở cấp chính trường liên bang Mỹ - chính Bloomberg cũng đã âm thầm rút lui khi từ bỏ ý nghĩ chạy đua chức tổng thống vào năm 2008. 
 
Hiện người dân New York đã sẵn sàng đón nhận người lãnh đạo mới. Thị trưởng sắp mãn nhiệm Bloomberg nói rằng nhiều người Mỹ “thể hiện quan điểm của mình bằng hành động”; họ du lịch tới thành phố New York với số lượng kỉ lục, đưa con cái vào học ở các trường công và nộp đơn xin việc vào văn phòng thành phố với danh sách “dài hàng tỉ km”. 

Ông Bloomberg cũng cho rằng, ngay cả tình trạng thu nhập bất bình đẳng cũng là kết quả của nỗ lực thu hút giới “siêu giàu”, những người thường xuyên lui tới các cửa hiệu và nhà hàng đồng thời đóng góp nhiều thuế cho chính quyền. Nhưng ngày bầu cử 5/11 chắc chắn sẽ là ngày chiến thắng của nhân vật đảng Dân chủ có tư tưởng cấp tiến hơn, Bill de Blasio, người vẫn điều hành chiến dịch chống Bloomberg, “thề” sẽ tăng thuế thu nhập đối với giới siêu giàu và đánh vào tâm lý lo lắng của cử tri về một thành phố lộng lẫy mà nhiều người cho rằng New York không thể kham nổi. 

Bên ngoài New York, giới bảo thủ nhìn nhận Bloomberg là tai họa, một lãnh đạo xấu xa chỉ biết rầy la, một kẻ bỏ hàng triệu USD cho các chiến dịch chính trị để lén gán những giá trị của một thành phố lớn vào tư tưởng tầng lớp trung lưu Mỹ. 

Các chương trình của ông Bloomberg từ cải cách giáo dục cho tới kiểm soát sử dụng súng, đã đẩy ông vào các cuộc tranh cãi ở qui mô toàn nước Mỹ. 
Thị trưởng Bloomberg và nhóm “Các thị trưởng chống lại nạn sử dụng súng trái phép”.
Không phải lúc nào tiền của nhà tài phiệt này cũng được chào đón. Thống đốc bang Colorado và là đảng viên đảng Dân chủ, John Hickenlooper, vừa bóng gió rằng ông không cần tiền của nhóm“Các thị trưởng chống lại nạn sử dụng súng trái phép” với sự tài trợ của Bloomberg để chống lại các chính trị gia bảo vệ quyền sử dụng súng bởi lẽ chính trường ở bang Colorado không thích bên ngoài “nhúng mũi” vào chuyện nội bộ của bang này. 

Những người ủng hộ thì cho rằng ông Bloomberg là người đi tiên phong của chính trị kiểu mới. Những cuốn sách như cuốn “Nếu các thị trưởng lãnh đạo thế giới: Các quốc gia đang chệnh choạc và các thành phố đang trỗi dậy” cho rằng các thành phố đã có quyền lực tuyệt đối trong việc giải quyết bế tắc do sự đối đầu giữa 2 đảng (Cộng hòa và Dân chủ). Đối với những người ủng hộ Bloomberg, các thành phố đang khuyến khích cách giải quyết vấn đề một cách thực tế bởi lẽ các thị trưởng đã được thêm quyền giải quyết các vấn đề quá rõ như thu gom rác, chống tội phạm và cải thiện các trường học. Họ trích câu nói của Fiorello LaGuardia, cựu thị trưởng New York rằng: “Không có cách sửa cống thoát nước nào theo kiểu Cộng hòa hay Dân chủ cả”. 

Những người ủng hộ mong muốn Bloomberg mở rộng vai trò của mình ra toàn cầu với tư cách là người bảo trợ cho các thị trưởng, thông qua các cơ quan như C40, một mạng lưới các thành phố lớn trên thế giới đang từng bước làm giảm lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính. Có vẻ ông Bloomberg sẽ đi theo mong muốn của những người ủng hộ. Ông cho rằng chính quyền quốc gia và chính quyền bang phải “mạnh tay” với những nhiệm vụ như phân bổ lại tài sản từ người giàu có sang người nghèo. Ông cũng cho rằng thủ đô Washington đã cho thấy tình trạng “sụp đổ, đóng cửa và sự chia rẽ “vô phương cứu chữa” giữa hai đảng (Dân chủ và Cộng hòa)”. Trong khi đó, “ các thị trưởng có năng lực trên khắp nước Mỹ đang làm những việc có tính đổi mới”. 

Nhưng không phải tất cả các thị trưởng đều làm tốt tốt, hay không bị “đàm tiếu” về phân phối thu nhập. Dù ai trở thành thị trưởng New York đi nữa thì các nghiệp đoàn sẽ đòi phải kí các hợp đồng mới, hào phóng hơn. 

Sự thực thì các thành phố năng động của Mỹ đã thu hút nhiều người giàu có sẵn sàng san sẻ một chút tài sản của mình để việc đi lại trên các con phố trở nên an toàn thay vì phải sống ở vùng ngoại ô “kín cổng cao tường”. Nhưng đó là vấn đề về chính trị chứ không phải là quá trình điều hành, quản lý.
Ông Bloomberg đã làm được rất nhiều điều cho thành phố New York. Có lẽ người Mỹ nên ăn mừng nếu ông ấy dành những năm tháng tiếp theo giúp các thành phố khác thay vì đi chơi golf. 

Theo Infonet

Từ nhân viên đếm tiền tới thị trưởng New York

Chỉ trong vòng có 20 năm, Bloomberg đã biến 10 triệu USD tiền bồi thường thôi việc từ nhà băng giờ không còn tồn tại này thành hãng tin tài chính Bloomberg trị giá nhiều tỷ USD. Ông còn là thị trưởng New York, và là một trong những tỷ phú có ảnh hưởng nhất thế giới. 

Trong hành trình nhiều thăng trầm đó, Bloomberg, người giàu thứ 11 tại Mỹ hiện nay, còn là một nhà từ thiện tích cực và một phi công cừ khôi.

Theo trang Business Insider, Michael Bloomberg sinh vào đúng ngày Valentine 14/2/1942 trong một gia đình trung lưu ở ngoại ô Boston, bang Masachusetts. Ông trải qua những năm tháng thơ ấu ở thành phố Medford, cũng thuộc tiểu bang này. Cha ông phải làm việc 7 ngày mỗi tuần với nghề kế toán tại một công ty sữa địa phương để nuôi sống gia đình gồm 4 người.

Bloomberg tốt nghiệp Đại học Johns Hopkins vào năm 1964 với tấm bằng cử nhân về kỹ thuật điện. Sau đó, ông tiếp tục học lên và nhận bằng MBA từ Đại học Harvard. Vào năm 1966, Bloomberg nộp đơn xin vào trường đào tạo sỹ quan không quân nhưng không được nhận vì ông có bàn chân phẳng.
Năm 1966, Bloomberrg được một ngân hàng đầu tư có tên Salomon Brothers ở New York nhận vào làm với mức lương khởi điểm 9.000 USD/tháng.

Ban đầu, Bloomberg làm việc trong hầm chứa tiền của Salomon. Trong cuốn sách “Bloomberg on Bloomberg”, ông kể lại: “Quần áo lót của chúng tôi đẫm mồ hôi trong hầm chứa tiền của ngân hàng chẳng có lấy một chiếc điều hòa không khí. Thi thoảng chỉ có một bịch 6 lon bia để giải tỏa cái nóng. Mỗi buổi chiều, chúng tôi phải đếm số trái phiếu và chứng chỉ cổ phiếu trị giá hàng tỷ USD được gửi vào ngân hàng để làm tài sản thế chấp cho các khoản vay qua đêm. Đến thập niên 1980, thì công việc như thế đã trở nên cổ xưa như chiếc xe ngựa kéo”.

Dần dần, Bloomberg thăng tiến lên những vị trí cao hơn và trở thành một nhà giao dịch trái phiếu và đối tác góp vốn ở Salomon Brothers vào năm 1972. Ở thời điểm đó, ông làm việc 12 giờ mỗi ngày, 6 ngày mỗi tuần.

Vào cuối thập niên 1970, ông đảm nhiệm vị trí người đứng đầu bộ phận giao dịch cổ phiếu. Năm 1976, ông kết hôn với người vợ đầu tiên, bà Susan Brown. Họ có hai người con là Emma và Georgina. Tuy nhiên, cặp đôi đã ly dị vào năm 1993.

Năm 1979, CEO John Gutfreund của Salomon Brothers yêu cầu Bloomberg thôi vị trí quản lý mảng giao dịch cổ phiếu để tới làm việc ở bộ phận hệ thống máy tính khi đó còn non trẻ. Đây bị coi là một sự giáng chức đối với Bloomberg. Tuy nhiên, về sau, Bloomberg có lẽ phải cảm ơn Gutfreund vì những kinh nghiệm mà ông đã thu thập được ở nhiệm vụ mới này.

Vào ngày 31/7/1981, mọi thứ ở Salomon Brothers đã thay đổi. Đêm đó, các thành viên của ngân hàng này được mời tới một cuộc họp và được thông báo, ngân hàng sẽ sáp nhập vào một công ty giao dịch hàng hóa có tên Phibro Corporation. Phibro là một công ty đại chúng, nên việc sáp nhập vào công ty này đồng nghĩa với việc Salomon cũng sẽ là một công ty đại chúng, và nhiều trong số thành viên của Salomon sẽ trở nên cực giàu. Tất cả đã ăn mừng trong đêm đó.

Nhưng một bất ngờ nữa đã xảy ra. Vào ngày hôm sau, 1/8/1981, Bloomberg có cuộc họp với CEO John Gutfreund và tại cuộc họp này, ông được yêu cầu phải rời khỏi Salomon. Ở tuổi 39, Bloomberg rời khỏi ngân hàng này với gói bồi thường thôi việc 10 triệu USD gồm tiền mặt và trái phiếu chuyển đổi.

Sau khi chính thức rời Salomon vào ngày 30/9/1981, Bloomberg đứng ra thành lập một công ty công nghệ thông tin riêng. Ông muốn đem tới sự minh bạch và hiệu quả cho những người mua và bán các công cụ tài chính.

Bloomberg đã chi 4 triệu USD tiền túi từ số tiền bồi thường thôi việc 10 triệu USD mà Salomon Brothers trả cho ông để phát triển một hệ thống máy tính nhằm cung cấp thông tin về thị trường trái phiếu, vận dụng những kiến thức về kỹ thuật điện mà ông học được từ Đại học Johns Hopkins. Ban đầu, công ty của Bloomberg có tên là Innovative Market Solutions, bao gồm ông và 4 người khác hợp tác để tạo ra và lập trình một thiết bị cuối máy tính (Bloomberg Terminal) cho phép các nhà giao dịch cập nhật thông tin về thị trường trái phiếu kho bạc Mỹ.

Vào năm 1982, khách hàng đầu tiên của Bloomberg là ngân hàng Merill Lynch đã đặt mua vào lắp đặt 22 thiết bị cuối máy tính MarketMaster. Bên cạnh đó, Merrill Lynch cũng chi 30 triệu USD để đổi lấy cổ phần 30% trong công ty của Bloomberg. Văn phòng của Bloomberg hiện nay ở New York có 22 bể cá, tượng trưng cho 22 thiết bị cuối máy tính đầu tiên bán được này.

Thập niên 1980 là thời gian ăn nên làm ra của công ty mà Bloomberg thành lập. Năm 1986, công ty này đổi tên từ Innovative Market Systems thành Bloomberg L.P. Đến năm 1987, Bloomberg đã bán được thiết bị cuối máy tính thứ 5.000 và thiết lập nền tảng cho các hệ thống giao dịch của riêng mình. Năm 1989, Bloomberg mua lại 1/3 số cổ phần 30% mà Merrill Lynch nắm giữ với giá 200 triệu USD. Thương vụ này định giá Bloomberg ở mức 2 tỷ USD chỉ 8 năm sau ngày thành lập công ty.

Thập niên 1990 chứng kiến một loạt bộ phận truyền thông khác được thành lập trong Bloomberg L.P., bao gồm mạng tin tức Bloomberg Business News, đài phát thanh Bloomberg Radio, kênh truyền hình Bloomberg TV và tạp chí Bloomberg Markets Magazine.

Thiết bị Bloomberg Terminal thứ 100.000 đã được lắp đặt vào năm 1998. Với mức phí 1.500 USD/tháng mỗi thiết bị, công ty tư nhân của Bloomberg đã thu về khoản lợi nhuận khổng lồ. Đến thời điểm này, Bloomberg L.P. đã có văn phòng khắp thế giới và hiện diện khắp nơi trên các thị trường tài chính lớn. Hiện tại, công ty này đã có hơn 310.000 đăng ký sử dụng dịch vụ tin tức và thông tin tài chính và 15.000 nhân viên trên phạm vi toàn cầu.

Khi đã có sức mạnh tài chính, tỷ phú Bloomberg bắt đầu xuất hiện trên chính trường. Năm 2001, ông quyết định ra tranh cử chức thị trưởng thành phố New York với tư cách một ứng viên của đảng Cộng hòa. Trước đó, ông thuộc đảng Dân chủ, nhưng quyết định chuyển đảng với mong muốn có cơ hội giành thắng lợi lớn hơn.

Ít người xem Bloomberg có cơ hội thắng cử, nhưng vào năm 2002, ông đã nhậm chức thị trưởng New York sau khi chi ra 74 triệu USD để vận động tranh cử. Ông chỉ nhận mức lương 1 USD/năm cho chức vụ này và đã nỗ lực hết sức để tái thiết khu vực bị phá hủy của New York trong sự kiện tấn công khủng bố ngày 11/9. Trở thành thị trưởng New York, Bloomberg thôi chức Giám đốc điều hành (CEO) của công ty và cử Lex Stanwick vào vị trí này.

Nhiều người cho rằng, sau vụ 11/9, thành phố New York sẽ đối mặt với hàng loạt thách thức như tội phạm gia tăng, các doanh nghiệp rời đi, và thành phố sẽ mất nhiều năm để hồi phục. Tuy nhiên, kể từ khi nhậm chức vào năm 2002, thị trưởng Bloomberg đã giảm số người xin trợ cấp xã hội được 25%, tỷ lệ tốt nghiệp phổ thông trung học tăng 40%, tội phạm giảm 35%. Từ tháng 10/2009 tới nay, số việc làm mới được tạo thêm trong khu vực tư nhân ở New York nhiều gần gấp đôi so với 10 thành phố lớn nhất ở Mỹ sau New York gộp lại.

Hiện Bloomberg đang ở trong nhiệm kỳ thị trưởng New York thứ ba. Trong nhiệm kỳ đầu tiên của Bloomberg, tỷ lệ ủng hộ ông đã có lúc giảm xuống còn 24%. Tuy nhiên, tỷ lệ này đã hồi phục nhanh chóng và với chiến dịch tranh cử tiêu tốn 85 triệu USD, Bloomberg đã trúng cử nhiệm kỳ thứ hai. Vào năm 2007, Bloomberg tuyên bố từ bỏ đảng Cộng hòa và trở thành một chính trị gia độc lập. Cuộc chạy đua tranh cử nhiệm kỳ thị trưởng thứ ba của Bloomberg tiêu tốn 90 triệu USD, nhưng đã đưa ông trở thành 1 trong 4 thị trưởng New York tại vị lâu nhất.

Tuy chỉ nhận lương 1 USD từ chức thị trưởng New York, Bloomberg sở hữu giá trị tài sản ròng 22 tỷ USD và là người giàu thứ 11 ở Mỹ theo xếp hạng của tạp chí Forbes. Ông cũng được cho là người giàu nhất ở New York.

Tính đến nay, Bloomberg đã dành 2,4 tỷ USD cho hoạt động từ thiện trong các lĩnh vực chăm sóc sức khỏe cộng đồng, bảo vệ môi trường, phát huy các sáng kiến của chính phủ, nghệ thuật và giáo dục. Riêng trong năm 2011, ông đã tài trợ 330 triệu USD cho các hoạt động này. Bloomberg đã tài trợ nhiều cho Đại học Princeton. Trường này đã lấy tên con gái ông là Emma B. Bloomberg để đặt tên cho một ký túc xá trong trường sau khi cô Emma tốt nghiệp vào năm 2001.

Giống như nhiều tỷ phú khác, Bloomberg cũng thích sắm nhiều nhà đẹp và máy bay. Ông sở hữu nhiều dinh cơ hoành tráng ở nhiều nơi trên thế giới từ thành phố nghỉ dưỡng Vail của Mỹ tớ thủ đô London của Anh.

Tại New York, ông không sống trong dinh thự dành riêng cho thị trưởng là Gracie Mansion mà ông sống ở căn nhà riêng trị giá 17 triệu USD ở khu Upper East Side. Ông còn có một dinh cơ 10,5 triệu USD ở Bermuda, một căn nhà 10 triệu USD ở London, một biệt thự 20 triệu USD ở Southampton, bang New York, và một căn hộ 1,5 triệu USD ở Vail. Tính chung, ông có 11 bất động sản khác nhau.
Vào năm 1976, Bloomberg đã học lái máy bay. Ông có niềm đam mê láy máy bay trực thăng và một khi đã lên chiếc máy bay trực thăng 6 chỗ ngồi Agusta SPA A109s trị giá 4,5 triệu USD của công ty, ông hiếm khi nhường quyền lái cho phi công chuyên nghiệp. Thậm chí, ông còn đích thân lái máy bay đưa bạn bè và đối tác từ New York tới Albany trên chiếc máy bay trực thăng của mình. Những chiếc máy bay riêng của Bloomberg được cất giữ ở sân bay Morristown Municipal Airport ở New Jersey.

Còn khi không lái máy bay, Bloomberg thường đi tàu điện ngầm ở New York. Cả Bloomberg và bạn gái hiện tại của ông, bà Diana Taylor, một người làm trong lĩnh vực ngân hàng đầu tư, thường xuyên sử dụng hệ thống tàu điện ngầm của thành phố New York. Bà Diana Taylor cho biết, bà đi tàu điện ngầm đến chỗ làm mỗi ngày, còn thị trưởng Bloomberg cũng đi tàu điện ngầm từ nhà tới Tòa thị chính.
Vneconomy 

Con đường thành tỷ phú của Michael Bloomberg


Xuất thân trong gia đình bình thường, từng bị đuổi việc khi sự nghiệp đang lên cao, Michael Bloomberg đã nỗ lực gây dựng công ty riêng và trở thành người giàu thứ 11 tại Mỹ.

Michael Bloomberg sinh năm 1942 trong một gia đình trung lưu tại bang Massachusetts (Mỹ). Cha ông làm kế toán cho một công ty sữa địa phương.
Ông tốt nghiệp Đại học Johns Hopkins chuyên ngành kỹ thuật điện, sau đó lấy bằng MBA tại Đại học Harvard.
Năm 1966, Bloomberg làm việc cho hãng dịch vụ tài chính Salomon Brothers với lương khởi điểm 9.000 USD mỗi năm. Ban đầu, ông làm tại bộ phận két sắt.
Sau nhiều nỗ lực, đến năm 1972, Bloomberg trở thành nhân viên giao dịch trái phiếu và còn là cổ đông tại đây. Công việc của ông đòi hỏi làm 12 giờ mỗi ngày, liên tục 6 ngày một tuần. Đến cuối thập niên 70, ông trở thành trưởng bộ phận giao dịch cổ phiếu.
Năm 1979, CEO Salomon Brothers - John Gutfreund đề nghị Bloomberg rời vị trí này để chuyển sang lãnh đạo mảng hệ thống máy tính mới thành lập. Đây thực chất là một sự giáng chức, nhưng Bloomberg không hề hối hận về việc này.
Năm 1981, Salomon Brothers tuyên bố sẽ trở thành công ty đại chúng sau khi sáp nhập với hãng giao dịch hàng hóa đã niêm yết - Phibro Corporation. Rất nhiều cổ đông trong công ty sẽ trở nên giàu có vì việc này. Tuy nhiên, Bloomberg lại bị yêu cầu rời khỏi công ty với 10 triệu USD.
Sau khi rời Salomon Brothers, ông quyết định thành lập một công ty công nghệ. Bloomberg muốn cải thiện hiệu suất và sự minh bạch trên thị trường tài chính cho cả người mua lẫn người bán.Ông đã dùng 4 triệu USD để cùng bốn người khác phát triển một hệ thống máy tính có thể cung cấp thông tin về thị trường trái phiếu. Công ty của ông ban đầu có tên Innovative Market Solutions.
Năm 1982, Merrill Lynch đã trở thành khách hàng đầu tiên của Bloomberg khi đặt hàng 22 chương trình MarketMaster. Họ còn chi 30 triệu USD để mua 30% cổ phần trong Innovative Market Solutions.

Công ty của Bloomberg đặc biệt thành công vào thập niên 80. Năm 1986, Bloomberg đổi tên công ty sang tên mình. Năm 1989, ông mua lại một phần ba cổ phần của Merrill Lynch với giá 200 triệu USD.
Tại thời điểm đó, Bloomberg được định giá 2 tỷ USD chỉ sau 8 năm thành lập. Họ cũng đưa ra nhiều dịch vụ, như Bloomberg Business News, Bloomberg Radio, Bloomberg TV và Bloomberg Markets Magazine.
Bloomberg Terminal - dịch vụ theo dõi thông tin tài chính phổ biến tại Wall Street cũng trở thành công cụ cần thiết với các nhân viên giao dịch. Thiết bị thứ 100.000 đã được cài đặt năm 1998. Với mức phí 1.500 USD mỗi tháng, Bloomberg Terminal đã mang lại lợi nhuận khổng lồ cho công ty.
Ngày nay, công ty có văn phòng trên khắp thế giới và hoạt động tại hàng chục thị trường. Số thuê bao sử dụng dịch vụ cung cấp thông tin tài chính đã lên tới hơn 310.000. Nhân viên của hãng trên toàn cầu là hơn 15.000 người.
Năm 2011, Bloomberg quyết định chạy đua vào chức Thị trưởng thành phố New York. Ông bắt đầu nhiệm kỳ năm 2002 và giúp New York tái thiết sau vụ khủng bố 11/9. Sau đó, Bloomberg từ chức CEO và chỉ định Lex Fenwick lên thay thế.
Ông chỉ nhận mức lương tượng trưng 1 USD mỗi năm cho chức Thị trưởng. Hiện tại, Bloomberg đang trong nhiệm kỳ thứ ba liên tiếp. Tuy nhiên, ngày mai, người dân New York sẽ bầu ra thị trưởng mới, do Bloomberg đã chạm giới hạn số nhiệm kỳ.
Theo Forbes, Bloomberg hiện có tài sản 31 tỷ USD và là người giàu thứ 11 tại Mỹ. Ông cũng rất tích cực làm từ thiện. Tỷ phú đã đóng góp hơn 2,4 tỷ USD cho các quỹ về sức khỏe cộng đồng, môi trường, nghệ thuật và giáo dục. Chỉ tính riêng năm 2011, ông đã cho đi 330 triệu USD. 
Theo Vnexpress 

Chân dung bốn đại gia truyền thông thế giới

Hai đại gia giàu nhất làng truyền thông: Michael Bloomberg và David Thomson nhưng ông trùm Rupert Murdoch mới là người sở hữu cỗ máy kiếm tiền khỏe nhất.
Mới đây, làng truyền thông thế giới lại nổi sóng bởi vụ ly hôn giữa tỷ phú truyền thông Rupert Murdoch và người vợ thứ 3. Tỷ phú này nổi tiếng bởi sở hữu tập đoàn truyền thông News Corp với một loạt dự án ngành giải trí, xuất bản như Wall Street Journal, Fox News, hãng phim 20th Century.
Tuy nhiên Murdoch có phải là đại gia ngồi chiếu trên trong làng truyền thông thế giới?

Xếp hạng trong danh sách 2.000 tỷ phú của Forbes năm 2013

Hai đại gia giàu nhất làng truyền thông: Michael Bloomberg và David Thomson

Michael Bloomberg (71 tuổi) là doanh nhân đồng thời là một chính trị gia - thị trưởng thành phố New York. Ông gia nhập ngành tài chính bằng việc gia nhập ngân hàng đầu tư Salomon Brothers.

Tuy nhiên năm 1981, ngân hàng này bị thâu tóm và Bloomberg nghỉ việc cùng khoản tiền hỗ trợ 10 triệu USD. Với số tiền này ông thành lập công ty chuyên cung cấp dữ liệu thông tin tài chính có tên là Innovative Market Systems.

Năm 1987, ông đổi tên công ty thành Bloomberg L.P. Hiện vị tỷ phú này sở hữu 88% cổ phần của Bloomberg với giá trị tài sản cá nhân vào khoảng 27 tỷ USD, đứng thứ 13 thế giới và giàu thứ 7 tại Mỹ năm 2013.

Tính đến năm 2012, Bloomberg L.P có hơn 15.000 nhân viên trên thế giới hoạt động trong lĩnh vực cung cấp thông tin, dữ liệu, phân tích gồm: Bloomberg News, Bloomberg Television, Bloomberg Radio,…

Bloomberg L.P đứng trong danh sách 50 công ty tư nhân lớn nhất nước Mỹ theo xếp hạng của Forbes năm 2013.
David Thomson

Đối thủ đáng gờm của Bloomberg trên các thị trường chính là hãng truyền thông Thomson Reuters. Thomson Reuters là hãng truyền thông Canada thành lập năm 1851 và được Forbes xếp vào top 100 thương hiệu quyền lực nhất thế giới. Reuters hiện sở hữu mạng lưới nhân viên khổng lồ với 59.400 người khắp thế giới, gần gấp 4 lần so với Bloomberg.

Bloomberg hiện là thị trưởng thứ 108 của thành phố New York từ năm 2002. Bloomberg trước đây là đảng viên Đảng Dân chủ nhưng sau đó chuyển sang Đảng Cộng hòa vào năm 2001.

Ông rời khỏi Đảng Cộng hòa vào năm 2007 và tranh cử nhiệm kỳ thứ 3 năm 2009 như một chính trị gia độc lập. Michael Bloomberg thông qua nhiều chính sách cải thiện môi trường, giáo dục, y tế của New York.

Thomson Reuters chịu sự chi phối bởi công ty đầu tư của gia đình Thomson - Woodbridge. Tỷ phú truyền thông David Thomson hiện là chủ tịch HĐQT của cả 3 công ty Thomson Reuters, Woodbridge và The Globe and Mail Inc., một công ty truyền thông Canada.

Ông cùng các thành viên trong gia đình sở hữu khối tài sản trị giá 20,3 tỷ USD được Forbes xếp hạng thứ 24 trên thế giới và giàu nhất tại Canada.
Chạy đua thị phần giữa Bloomberg và Thomson Reuters - Nguồn: Economist

Hai công ty truyền thông lớn này là đối thủ trong lĩnh vực thông tin và dữ liệu kinh tế tài chính thế giới trong nhiều năm qua.

Theo The Economist, trước đây Thomson Reuters dẫn đầu ngành cung cấp thông tin toàn cầu nhưng từ năm 2007 dần mất thị phần vào tay Bloomberg.

Nữ tỷ phú truyền thông lớn tuổi nhất thế giới - Anne Cox Chambers

Anne Cox Chambers năm nay 93 tuổi được Forbes bình chọn là tỷ phú giàu thứ 80 trên thế giới và giàu thứ 30 tại Mỹ. Anne Cox Chambers hiện là người sở hữu tập đoàn truyền thông Cox Enterprises - công ty tư nhân lớn thứ 16 nước Mỹ.

Năm 1974 sau khi anh trai là ông James M.Cox qua đời, vợ chồng Anne Cox Chambers và Anthony giành quyền kiểm soát công ty gia đình này. Anne Cox Chambers còn được biết đến với cương vị giám đốc điều hành hãng Coca-Cola những năm 1980s, đại sứ Hoa Kỳ tại Bỉ dưới thời tổng thống Jimmy Carter.

Cox Enterprises gồm Cox Communications, Cox Media Group, Manheim và AutoTrader.com. Tập đoàn này ngoài việc hoạt động trong lĩnh vực truyền thông báo chí còn tham gia tổ chức đấu giá xe hơi.

Năm 2013 mặc dù được xếp ở vị trí giàu thứ 3 trong làng truyền thông thế giới với giá trị tài sản 12 tỷ USD nhưng khoảng cách giữa Anne Cox Chambers cách khá xa so với hai đại gia đứng đầu bảng.
Tỷ phú Anne Cox Chambers

Trùm truyền thông Rupert Murdoch lại là người sở hữu cỗ máy kiếm tiền khỏe nhất

Rupert Murdoch là tỷ phú nổi tiếng thế giới không chỉ bởi sở hữu tập đoàn News Corp - cỗ máy kiếm tiền cỡ bự mà còn bởi vụ ly hôn tốn kém nhất trong lịch sử. Năm 1999, ông trùm này chia tay người vợ thứ 2 với chi phí dàn xếp lên đến 1,7 tỷ USD.

17 ngày sau Rupert Murdoch kết hôn cùng người vợ thứ 3 - bà Wendi Deng. Tuy nhiên mới đây 2 người này đã tuyên bố ly hôn và giới truyền thông thế giới vẫn đang tò mò về số tiền mà Murdoch chi ra lần này liệu có lại tiếp tục lập kỷ lục hay không.

Hoạt động của News Corp được Murdoch lựa chọn gồm báo chí, xuất bản và giải trí khác với hướng cung cấp dữ liệu chuyên sâu như Bloomberg hay Reuters. Ngoài sở hữu các tờ báo nổi tiếng như Wall Street Journal, kênh Fox News, Sky, News Corp còn sở hữu hãng phim 20 th Century Fox.
Việc hướng giải trí bằng cách sản xuất những phim đình đám như Life of Pi, Avatar, X-men First Class,.. và các chương trình ăn khách như Master Cheft,…khiến News Corp dễ dàng kiếm được lượng doanh thu khổng lồ.

Ông chủ của News Corp được Forbes đánh giá xếp thứ 91 trong danh sách 2.000 tỷ phú năm 2013 đồng thời là người có quyền lực lớn thứ 26 trên thế giới. Tuy nhiên khối tài sản mà Murdoch sở hữu đạt 11,2 tỷ USD, chỉ bằng hơn nửa con số của gia đình David Thomson.
Cỗ máy khổng lồ News Corp
So sánh doanh thu của 4 hãng truyền thông

Nguồn: TRI THỨC TRẺ

Thứ Tư, 26 tháng 11, 2014

Những tỷ phú hảo tâm nhất thế giới

Dẫn đầu danh sách này là nhà sáng lập Microsoft - Bill Gates với 28 tỷ USD, theo sau ông là tỷ phú đầu tư Warren Buffett, George Soros và cựu CEO của Intel - Gordon Moore.

1. Bill Gates (Mỹ)
Tiền làm từ thiện: 28 tỷ USD
Tổng tài sản: 66 tỷ USD


Sự nghiệp từ thiện của Bill Gates bùng nổ năm 1999, khi ông thành lập quỹ Bill & Melinda Gates với số cổ phiếu Microsoft trị giá 16 tỷ USD. Sau đó, nhờ sự đóng góp tích cực của tỷ phú đầu tư Warren Buffett, quỹ này đã trở thành tổ chức từ thiện xuất sắc nhất thế giới. Những đóng góp nổi bật nhất của họ là chi 10 tỷ USD sản xuất vắc-xin, từ sốt rét đến viêm màng não, trong một thập kỷ. Tháng 4 năm nay, Melinda Gates còn cam kết hỗ trợ 1,1 tỷ USD giúp phụ nữ trên toàn thế giới tiếp cận các biện pháp ngừa thai.

2. Warren Buffett (Mỹ)
Tiền làm từ thiện: 17,25 tỷ USD
Tổng tài sản: 46 tỷ USD


Trong nhiều năm, Warren Buffet từng cam kết sẽ làm từ thiện tất cả tài sản của mình sau khi chết. Năm 2006, ông cũng tuyên bố sẽ ủng hộ hơn 30 tỷ USD vào quỹ của Bill Gates trong vòng hơn 20 năm. Dự án nổi bật nhất của ông là "Cam kết cho đi" (Giving Pledge), hợp tác cùng Bill Gates năm 2010. Dự án này đã thu hút 69 cá nhân và gia đình giàu có cam kết dành phần lớn tài sản để làm từ thiện. Tháng 8 năm nay, vào ngày sinh nhật của mình, Buffett cũng dành 3 tỷ USD cổ phiếu vào ba quỹ từ thiện mà các con ông đang quản lý.

3. George Soros (Mỹ)
Tiền làm từ thiện: 8,5 tỷ USD
Tổng tài sản: 19 tỷ USD


Từ năm 1979, tỷ phú này đã chi 8,5 tỷ USD để cung cấp kim tiêm sạch cho các phòng khám ở California (Mỹ) và các viện nghiên cứu khoa học tại Nga, nhằm giúp người Roma (người Gipxi) tại Đông Âu. Trong 8,5 tỷ USD này, 6 tỷ USD được dùng để hỗ trợ người dân quốc tế và khoảng 400 triệu USD để đối phó với nạn nghèo đói. Các sáng kiến gần đây của ông là 150 triệu USD cải thiện sự minh bạch của chính phủ trên toàn cầu và 100 triệu USD giúp trẻ em nam và đàn ông gốc Mỹ-Phi khắc phục khó khăn trong cuộc sống.

4. Gordon Moore (Mỹ)
Tiền làm từ thiện: 5 tỷ USD
Tổng tài sản: 4,8 tỷ USD


Nhà đồng sáng lập kiêm cựu CEO của Intel đã đóng góp hơn 5 tỷ USD bằng cổ phiếu cho quỹ Gordon & Betty Moore Foundation năm 2000. Quỹ này tập trung vào khoa học, bảo vệ môi trường và giáo dục điều dưỡng. Moore cũng đóng góp một phần vào việc xây dựng kính viễn vọng lớn nhất thế giới tại Hawaii, nơi ông từng sống một thời gian dài.

5. Carlos Slim Helú (Mexico)
Tiền làm từ thiện: 4 tỷ USD
Tổng tài sản: 69 tỷ USD


Người giàu nhất thế giới từng tuyên bố tạo ra việc làm còn tốt hơn nhiều so với từ thiện. Tuy nhiên, ông cũng đóng góp tới 2 tỷ USD, phần lớn từ cổ tức, cho quỹ Carlos Slim Foundation năm 2006, và thêm 2 tỷ USD nữa vào năm 2010. Quỹ này tập trung phát triển giáo dục kĩ thuật số và nâng cao sức khỏe con người. Ông cũng từng trích tặng 100 triệu USD cho dự án "Sáng kiến Clinton" để chi trả hơn 50.000 ca phẫu thuật đục thủy tinh thể ở Peru. Cùng với quỹ Gates và chính phủ Tây Ban Nha, Carlos Slim ủng hộ 150 triệu USD hỗ trợ cung cấp chất dinh dưỡng và đẩy mạnh hoạt động phòng bệnh tại Trung Mỹ.

6. Eli Broad (Mỹ)
Tiền làm từ thiện: 3,5 tỷ USD
Tổng tài sản: 6,3 tỷ USD


Eli Broad từng làm công nhân xây dựng, sau đó chuyển sang bảo hiểm và gần đây mới tập trung hoạt động từ thiện. Ông đã nỗ lực cải cách nền giáo dục Mỹ bằng cách trao phần thưởng cho các giáo viên giỏi. Năm 2010, Broad được cấp phép xây dựng một bảo tàng nghệ thuật đương đại ở Los Angeles. Và tháng 10 năm nay, ông đã đóng góp 19 tác phẩm trong bộ sưu tập của mình vào bảo tàng này. Broad cũng dành hơn nửa tỷ USD tài trợ cho viện nghiên cứu tế bào gốc ở Harvard và Học viện công nghệ Massachusetts.

7. George Kaiser (Mỹ)
Tiền làm từ thiện: 3,3 tỷ USD
Tổng tài sản: 10 tỷ USD


Kaiser cho rằng: "Chính phủ có trách nhiệm đảm bảo mỗi trẻ em sinh ra đều được hưởng quyền lợi như nhau. Nhưng đó chỉ là lời nói suông". Vì vậy, ông đã thành lập quỹ gia đình George Kaiser với trên 3 tỷ USD. Tổ chức này dành hàng triệu USD mỗi năm để hỗ trợ cho các phòng khám tư trên khắp Tulsa, giúp phụ nữ cai nghiện, nâng cấp trường công ở thành phố Tulsa (bang Oklahoma) và phát triển các trung tâm giáo dục trẻ em.

8. Michael Bloomberg (Mỹ)
Tiền làm từ thiện: 2,8 tỷ USD
Tổng tài sản: 25 tỷ USD


Michael Bloomberg đã hỗ trợ hơn 850 tổ chức từ thiện, nhiều chiến dịch chống hút thuốc lá, luật kiểm soát mua súng và các tổ chức nghệ thuật ở New York. Ông cũng dành tặng hơn 200 triệu USD cho Đại học Johns Hopkins - nơi ông từng theo học, 50 triệu USD cho Đại học Princeton và Viện Công nghệ Carnegie. Năm 2011, Bloomberg đóng góp tổng cộng 330 triệu USD cho tổ chức Sierra Club, Khối liên minh vì nghệ thuật và Quỹ phòng chống tự tử của Mỹ.

9. Azim Premji (Ấn Độ)
Tiền làm từ thiện: 2,1 tỷ USD
Tổng tài sản: 15,9 tỷ USD
Chủ tịch gã khổng lồ công nghệ thông tin Wipro đã thành lập quỹ Azim Premji vào năm 2001 bằng 125 triệu USD cổ phiếu Wipro. Năm 2010, ông tặng số cổ phiếu trị giá 2 tỷ USD cho quỹ từ thiện giúp đào tạo giáo viên và cải tiến chương trình giảng dạy tại các trường công ở trung tâm Ấn Độ.

10. James Stowers (Mỹ)
Tiền làm từ thiện: 2 tỷ USD
Tổng tài sản còn lại: 100 triệu USD


Ông trùm quỹ đầu cơ James Stowers đã ra khỏi danh sách Forbes 400 từ năm 2000, sau khi tặng 1,2 tỷ USD cho Viện Nghiên cứu y học Stowers ở Kansas. Tuy nhiên, hai vợ chồng ông vẫn tiếp tục ủng hộ cho viện này hàng triệu USD nữa để nâng cao hiểu biết của con người về ung thư, tiểu đường, đau tim và một số loại bệnh khác.
Theo Vnexpress

10 tỷ phú tay trắng lập thân giàu nhất thế giới 2014

Trở thành tỷ phú thế giới đã là cả một thành công lớn, và càng đáng nể trọng hơn khi đó là những người tay trắng lập thân, không nhờ thừa kế hay chia gia sản. Sau đây là 10 tỷ phú tự thân giàu nhất thế giới 2014. 

10. George Soros – Giá trị tài sản ròng 20 tỷ USD

Sinh ra tại Budapest, Hungary, mẹ của ông Soros là chủ một cửa hàng lụa trong khi cha là một luật sự, bị cầm tù trong Thế chiến II. Rời quê nhà sang London học, ông đã lấy bằng tiến sỹ tâm lý học, trước khi tới New York và lập nên quỹ đầu tư Quantum, giúp ông tạo ra 40 tỷ USD sau khi thành lập năm 1973, và trở thành quỹ đầu cơ thành công nhất lịch sử. 

9. Carl Icahn – Giá trị tài sản ròng 20,3 tỷ USD

Là một nhà đầu tư nổi danh khắp nước Mỹ, nhưng Icahn lại sinh ra trong một gia đình có cha là ca sỹ opera, còn mẹ là giáo viên phổ thông, những nghề không liên quan đến tài chính.

Tốt nghiệp đại học Princeton với tấm bằng cử nhân triết học, ông từng theo học trường y thêm 2 năm trước khi bỏ dở, nhập ngũ, rồi gia nhập phố Wall năm 1961 với tư cách nhân viên môi giới chứng khoán. 7 năm sau, ông lập công ty riêng và bắt đầu thâu tóm nhiều công ty lớn trên thế giới như Texaco, Western Union, Viacom, Marvel Comics, Revlon, Blockbuster, Time Warner. 

8. Sergey Brin – Giá trị tài sản ròng 24,4 tỷ USD
Nhà đồng sáng lập Google di cư từ Nga sang Mỹ năm 6 tuổi trong tình cảnh cả bố và mẹ đều mất việc. Sau khi tốt nghiệp đại học Stanford, Brin đã giành được bằng tiến sỹ khoa học máy tính. Trong thời gian học, Brin kết thân với bạn là Larry Page, một nghiên cứu sinh tiến sỹ khác. Và Google đã ra đời từ đó.

Đến nay, Brin đã không còn tham gia vào vai trò chính tại Google, giao cho Page toàn quyền điều hành, để sang dẫn dắt mảng các dự án đột phá của Google, như kính Google Glass và xe không người lái. 

7. Larry Page – Giá trị tài sản ròng 24,9 tỷ USD

Larry Page là con trai của một tiến sỹ khoa học máy tính, khi ngành này mới ra đời. Page đã theo chân cha, giành bằng tiến sỹ khoa học máy tính tại đại học Stanford. Trong thời gian làm luận án tiến sỹ, Page đã bị cuốn hút bởi một bạn học trong dự án có biệt danh “BackRub”, vốn được triển khai trong lúc ông tìm hiểu thế giới web. Thông qua công việc của mình, họ đã tạo ra phiên bản sơ khởi của Google. 

6. Jeff Bezos – Giá trị tài sản ròng 27,2 tỷ USD

Sinh ra trong một gia đình có cha mẹ ly hôn khi còn nhỏ, ông Bezos ngay từ nhỏ đã cho thấy sự đam mê công nghệ và khoa học. Đến khi học đại học, Bezos ban đầu đăng ký ngành vật lý trước khi chuyển sang ngành kỹ thuật điện và khoa học máy tính. Năm 1994, ông lập ra trang web bán hàng trực tuyến Amazon tại chính gara xe nhà mình. 

5. Sheldon Adelson – Giá trị tài sản ròng 28,5 tỷ USD

Lớn lên trong một gia đình có cha lái taxi còn mẹ bán đồ thêu đan, Adelson ngay ở tuổi 12 đã bắt đầu vay tiền từ bác để đi bán báo. Năm 16 tuổi ông sở hữu một máy bán kẹo trước khi đến học tại đại học New York rồi bỏ dở giữa chừng để kinh doanh. Kể từ đây ông kinh doanh đủ loại mặt hàng, từ đồ vệ sinh tới hóa chất tẩy rửa cửa kính ô tô.

Ông trở thành triệu phú khi còn trẻ nhưng đã hai lần mất hết cả gia tài. Tổng cộng, ông tạo ra hơn 50 doanh nghiệp, nhưng đến nay các sòng bạc vẫn là những nơi đem đến cho ông hầu hết tài sản. Giá trị vốn hóa tập đoàn Las Vegas Sands của ông hiện còn lớn hơn tất cả các công ty kinh doanh sòng bạc khác tại Mỹ gộp lại. Trong năm 2013, mỗi ngày trung bình Adelson bỏ túi 32 triệu USD. 

4. Michael Bloomberg – Giá trị tài sản ròng 31 tỷ USD

Vị cựu thị trưởng thành phố New York từng tốt nghiệp kỹ sư ngành điện tại đại học Johns Hopkins và thạc sỹ quản trị kinh doanh tại đại học Harvard. Ông khởi nghiệp tại một ngân hàng đầu tư trên phố Wall và khi bị sa thải, ông được bồi thường tới 10 triệu USD. 

Với số vốn này, ông đã tạo dựng công ty của riêng mình có tên Innovative Market Systems, trước khi rời ghế CEO đi làm chính trị. Giờ khi đã rời chính trường, ông chuyển sang làm từ thiện và thúc đẩy cho cá kế hoạch chính trị của mình, ví dụ như chương trình chống lại việc sử dụng súng tại Mỹ. 

3. Larry Ellison – Giá trị tài sản ròng 41 tỷ USD
 
Xuất thân từ một gia đình người Do thái trung lưu, Ellison được bố mẹ nuôi (chú và dì) nuôi nấng sau khi được mẹ cho đi khi mới 9 tháng tuổi. Đến năm 48 tuổi, ông mới gặp lại mẹ đẻ. Khi mẹ nuôi qua đời, ông đã rời trường đại học để tới Bắc California đi làm.

Ellison đã nghiên cứu về một cơ sở dữ liệu cho CIA, mà ông đặt tên là Oracle. Và đây chính là công ty ông sở hữu sau này, Oracle Systems Corporation. Sau khi thành đạt, tỷ phú này nổi tiếng với thú vui mua sắm nhà cửa, máy bay, du thuyền và thậm chí cả hòn đảo Lanai tại quần đảo Hawaii. 

2. Warren Buffett – Giá trị tài sản ròng 58,5 tỷ USD

Buffett có lẽ là một trong những tỷ phú nổi tiếng nhất nước Mỹ và thế giới. Ngay từ khi còn học phổ thông, ông đã cùng bạn hùn vốn mua máy trò chơi đặt tại một tiệm cắt tóc. Từ số tiền thu được, họ không ngừng đầu tư mua thêm máy, cho đến khi có 8 máy tại các cửa hàng khác nhau. Sau đó, họ bán lại việc kinh doanh và lấy tiền đầu tư chứng khoán. Ngay ở tuổi 26, ông đã có 174.000 USD, tương đương với 1,4 triệu USD theo thời giá ngày này. Dù giàu có, ông vẫn sống trong ngôi nhà mua năm 1957 với giá 31.500 USD và chi tiêu tiết kiệm. 

1. Bill Gates – Giá trị tài sản ròng 72 tỷ USD

Cùng với Buffett, Bill Gates luôn nằm trong tốp đầu bảng xếp hạng các tỷ phú giàu nhất thế giới trong khoảng 2 thập niên gần đây. Với tư cách nhà đồng sáng lập tập đoàn Microsoft, Gates đã tích tụ được phần lớn tài sản của mình trước khi rời khỏi “ghế” chủ tịch tập đoàn này để dành thời gian cho công việc từ thiện tại quỹ Bill & Melinda Gates. Cùng với Buffett và hơn 100 tỷ phú khác, Gates đã ký cam kết hiến ít nhất một nửa tài sản ròng của mình cho từ thiện. 

Thứ Năm, 13 tháng 11, 2014

Tỷ phú Michael Bloomberg: 'Quên đại học đi, làm thợ sửa ống nước còn tốt hơn'

Đó là lời khuyên của Cựu thị trưởng New York kiêm tỷ phú Michael Bloomberg gửi tới các học sinh trung học tại buổi họp thường niên của các công ty dịch vụ tài chính hàng đầu tại Mỹ (SIFMA) hồi đầu tuần.

“Nếu con bạn đắn đo giữa việc vào đại học hay đi làm thợ sửa ống nước, bạn sẽ phải cân nhắc rất nhiều", tỷ phú Bloomberg nói.

 "Nếu con bạn không thể vào được trường tốt, cũng không hứng thú với chuyện học hành, nhưng lại rất nhanh nhạy khi tiếp xúc với mọi người hoặc có kỹ năng đại loại như vậy, làm thợ ống nước sẽ là công việc tuyệt vời”.


Cũng trong buổi nói chuyện, ông cũng cho biết những ai định theo học tại Đại học Harvard nên cân nhắc kỹ bài toán kinh tế.


“Bạn sẽ phải trả học phí 50.000 đến 60.000 USD một năm hoặc cũng có thể kiếm được từng ấy nếu làm thợ ống nước”, ông giải thích.


Ông đã lấy câu chuyện về người cha làm thợ sửa ống nước của một nhân viên trong công ty làm ví dụ.


“Ông ấy có 6 người thợ làm việc cho mình, chơi golf rất giỏi và thường xuyên tới những sân golf mà tôi chỉ có thể nằm mơ mới thấy. Ông ấy đã khởi nghiệp khi có cơ hội và chưa bao giờ học đại học”, ông nói.


Theo CNN, tỷ phú Bloomberg từng học Đại học Johns Hopkins và Trường Kinh doanh Harvard, có thừa kinh nghiệm để hiểu những gì cần thiết để xây dựng một doanh nghiệp và nhận thấy có rất nhiều cơ hội cho giới trung lưu Mỹ khi kinh doanh trong ngành dịch vụ.

Tỷ phú cho rằng những nghề nghiệp như vậy đang ngày càng quan trọng, do công nghệ phát triển đã khiến cho những người thuộc tầng lớp trung lưu không còn được trả lương cao như trước đây. Đó có thể là lý do các báo cáo cho thấy tỷ lệ tuyển dụng tăng lên, trong khi lương thì gần như đứng yên.


“Ở các công ty luật bây giờ, người ta chỉ cần gõ phím và nghiên cứu. Trong khi trước kia, các thư ký luật phải tra cứu cả đống sách”, ông cho biết.

Cùng chung quan điểm với Bloomberg là David Rubenstein, đồng sáng lập kiêm CEO Công ty đầu tư The Carlyle Group.


“Ngày nay, rất nhiều người đã chẳng còn tin vào việc nếu làm việc chăm chỉ, đi học đầy đủ, có học bổng, anh có thể leo lên vị trí dẫn đầu. Khái niệm đó đã thay đổi rất nhiều từ sau khủng hoảng tài chính”, ông nói.
 Theo Infonet/CNN

Bài đăng phổ biến