Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh tế-đầu tư. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh tế-đầu tư. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 5 tháng 6, 2011

Tại sao Việt Nam lại nhập siêu mạnh từ Trung Quốc?

Trong năm 2010, cán cân thương mại của Việt Nam với Trung Quốc thâm hụt 12,7 tỉ USD, gần bằng với giá trị nhập siêu của toàn bộ nền kinh tế Việt Nam. Cũng trong bốn tháng đầu năm 2011, giá trị nhập khẩu của Việt Nam với Trung Quốc tiếp tục tăng gần 28% so với cùng kỳ năm 2010 và đạt khoảng 7,1 tỉ USD, trong khi xuất khẩu chỉ có gần 3 tỉ USD. Vậy đâu là nguyên nhân dẫn đến tình trạng mất cân đối trên?

Nhập khẩu hàng hoá Trung Quốc của Việt Nam bắt đầu gia tăng mạnh từ năm 2000. Trung Quốc đã trở thành đối tác thương mại nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam, vượt qua cả Nhật Bản và Hàn Quốc. Tỷ trọng nhập khẩu hàng hoá Trung Quốc trong tổng kim ngạch nhập khẩu từ năm 2005 đến nay hầu như đều ở mức trên 15%/năm, cao hơn từ hai đến ba lần so với tỷ trọng của hàng hóa Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc trên tổng kim ngạch xuất khẩu.

Yếu tố tỷ giá giữa hai nước

Tỷ giá là một trong những yếu tố ảnh hưởng rất mạnh mẽ đến cán cân thương mại và ngược lại. Thông thường các quốc gia muốn đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu sẽ theo đuổi một chính sách đồng tiền yếu. Hàng hoá sẽ trở nên rẻ tương đối so với các nước khác khi đồng tiền bản tệ bị định giá thấp.

Trong giai đoạn vừa qua, quan hệ Mỹ – Trung ngày càng trở nên căng thẳng khi Mỹ cáo buộc Trung Quốc chủ động định giá đồng CNY thấp để hỗ trợ các doanh nghiệp xuất khẩu tạo ra sự mất cân đối giữa các nền kinh tế trên thế giới. Do sức ép lạm phát ở trong nước, Trung Quốc đã đồng ý nhượng bộ Mỹ nâng giá CNY từ tháng 6.2010. Đồng CNY đã liên tục mạnh lên kể từ thời điểm này. Tính cho đến ngày 31.5.2011, tỷ giá USD – CNY đã tăng thêm gần 5,2% đạt mức 6,478.

Thế nhưng, dường như những thay đổi tỷ giá giữa VND và CNY lại không có ảnh hưởng nhiều đến cán cân thương mại Việt – Trung. Tính từ đầu năm 2007 đến hết 2010, VND mất giá so với USD khoảng 21%. Trong khi đó, đồng USD lại mất giá so với đồng CNY khoảng 15,35% trong cùng khoảng thời gian. Điều này cho thấy tiền VND mất giá kép so với tiền CNY. Tuy nhiên, nhập siêu của Việt Nam từ Trung Quốc, thay vì suy giảm, lại tăng thêm 40%, từ mức 9,06 tỉ USD của năm 2007 lên mức 12,71 tỉ USD vào năm 2010.

Nguyên nhân từ cơ cấu xuất nhập khẩu

Nhập siêu của Việt Nam từ Trung Quốc liên tục tăng kể từ khi hiệp định tự do thương mại giữa ASEAN – Trung Quốc (ACFTA) bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1.7.2005. Trung Quốc là đối tác đầu tiên ký thoả thuận mậu dịch tự do với khối ASEAN. Nhưng đây chỉ là cơ sở pháp lý để Việt Nam chuyển mạnh nhập siêu từ các nước ASEAN sang Trung Quốc, khi đồng CNY vẫn yếu tương đối so với các đồng tiền trong khu vực trong những năm vừa qua. Còn bản chất của việc Việt Nam nhập khẩu từ các nước láng giềng chủ yếu là do cơ cấu xuất nhập khẩu của Việt Nam. Việt Nam nhập khẩu phần lớn máy móc thiết bị cũng như nguyên vật liệu chế tác từ nước ngoài, sau đó gia công lắp ráp và xuất khẩu đi các nước khác.

Số liệu của tổng cục Hải quan cho thấy, cơ cấu của từng nhóm mặt hàng trong tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam với Trung Quốc vẫn khá ổn định qua từng năm. Nhóm hàng hoá tiêu dùng và phương tiện giao thông vận tải thường chiếm từ 4 – 5,5%. Nhóm hàng hoá phục vụ sản xuất chiếm từ 55 – 60%. Còn nhóm máy móc thiết bị chiếm từ 22 – 25%.

Nhóm hàng hoá phục vụ sản xuất bao gồm các nguyên liệu đầu vào cho các ngành sản xuất trong nước như phân bón, thuốc trừ sâu thức ăn gia súc và nguyên liệu; xăng dầu và khí đốt; chất dẻo, cao su, gỗ và hoá chất… và các nguyên liệu đầu vào để sản xuất các sản phẩm xuất khẩu như nguyên vật liệu dệt may da giày, chất dẻo, máy tính và hàng điện tử… Đa phần các nguyên liệu nhập từ Trung Quốc đều là sản phẩm đầu vào của các hãng xuất khẩu trong chuỗi sản xuất toàn cầu. Do các ngành phụ trợ sản xuất nguyên vật liệu phục vụ xuất khẩu của Việt Nam chưa phát triển, nên Việt Nam buộc phải nhập từ Trung Quốc. Sự phụ thuộc này là một lẽ tự nhiên bởi Trung Quốc ở gần Việt Nam. Khoảng cách địa lý thuận lợi sẽ giúp cho việc vận chuyển hàng hoá dễ dàng với chi phí thấp. Đơn cử như hàng dệt may da giày, Việt Nam nhập rất nhiều sợi và da giày từ Trung Quốc, nhưng lại xuất rất nhiều thành phẩm cuối cùng sang các thị trường lớn khác như EU và Mỹ. Hàng máy tính và linh kiện điện tử, chất dẻo… cũng tương tự như vậy.

Đối với nhóm hàng hoá máy móc thiết bị, Việt Nam ưa chuộng hàng Trung Quốc bởi công nghệ của Trung Quốc thường không quá đắt và phù hợp với tài chính của các doanh nghiệp trong nước. Hơn nữa, sản phẩm sản xuất trong nước lại không phải đáp ứng các chất lượng tiêu chuẩn khắt khe của hàng xuất khẩu nên việc lựa chọn các máy móc thiết bị từ Trung Quốc là phù hợp. Còn với các hàng hoá xuất khẩu, Việt Nam thường xuất thô hoặc xuất khẩu hàng sơ chế nên các máy móc sản xuất cũng không quá phức tạp, và việc lựa chọn nhập khẩu từ Trung Quốc có thể giúp giảm chi phí đầu tư lớn.

Một nguyên nhân quan trọng nữa khiến cho việc nhập khẩu máy móc thiết bị từ Trung Quốc tăng mạnh là do các nhà thầu Trung Quốc liên tục thắng thầu ở các công trình lớn và quan trọng tại Việt Nam, chủ yếu là xây dựng các nhà máy nhiệt điện, phân đạm, ximăng, bôxít, đường sắt… Với chi phí nhân công tại Trung Quốc thấp, máy móc thiết bị rẻ hơn và nhận được sự hỗ trợ từ chính sách tỷ giá đồng CNY yếu, đã khiến cho giá bỏ thầu của các doanh nghiệp Trung Quốc cạnh tranh hơn so với các doanh nghiệp nước ngoài khác và các doanh nghiệp Việt Nam.

Các gói thầu mà doanh nghiệp Trung Quốc trúng thường được thực hiện theo hình thức EPC, tức là các nhà thầu Trung Quốc sẽ làm trọn gói từ khâu thiết kế, mua sắm thiết bị đến xây dựng. Các chủ đầu tư trong nước chỉ làm nốt công đoạn cuối là vận hành và sử dụng. Một số công trình lớn của Việt Nam đang do các nhà thầu Trung Quốc đảm nhận bao gồm: nhà máy đạm Cà Mau; nhiệt điện Hải Phòng 1 và 2; nhiệt điện Quảng Ninh 1 và 2; nhiệt điện Kiên Lương; dự án đường sắt nội đô Hà Nội gói thầu 350 triệu USD; dự án dây chuyền 2 ximăng Nghi Sơn và dự án ximăng Công Thanh; dự án cao tốc Bắc Nam đoạn Sài Gòn – Long Thành – Dầu Giây; dự án khai thác bô xít Tây Nguyên và nhiều dự án khác nữa…

Tuy nhiên, đồng CNY của Trung Quốc đang có xu hướng mạnh lên. Hàng hoá Trung Quốc sẽ trở nên đắt đỏ hơn và có thể Việt Nam sẽ lại quay sang nhập khẩu từ các nước trong khối ASEAN hoặc Ấn Độ để đáp ứng các nhu cầu chế tác của mình. Số liệu cho thấy, bốn tháng đầu năm 2011 tỷ trọng nhập khẩu từ Trung Quốc đã giảm thấp hơn so với năm 2009 và 2010, trong khi nhập siêu tổng thể vẫn tăng mạnh. Vì thế, nhập siêu tổng thể của Việt Nam chỉ có thể giảm nếu như Việt Nam xây dựng được một chiến lược phát triển công nghiệp phù hợp, đáp ứng được các nhu cầu tiêu dùng của người dân cũng như của doanh nghiệp xuất khẩu trong nước.

Thứ Tư, 25 tháng 5, 2011

Báo chí phương Tây nói gì về chứng khoán Việt Nam?

Một số chuyên gia nhận định, thị trường chứng khoán Việt Nam có thể đang bước vào giai đoạn cuối của quá trình dò đáy.

Tuy nhiên, họ cũng cảnh báo, áp lực lạm phát sẽ còn khiến VN-Index ít có khả năng khởi sắc trong ngắn hạn.

Việc giá cổ phiếu ở Việt Nam liên tục đổ dốc thời gian qua, và lao dốc với tốc độ cao trong mấy phiên giao dịch gần đây đã thu hút sự chú ý của nhiều tờ báo nước ngoài. Tới phiên hôm nay (25/5), chỉ số VN-Index đã bước sang phiên suy giảm thứ 10 liên tục, đóng cửa ở mức 386,36 điểm.

Theo hãng tin tài chính Bloomberg, từ mức đỉnh của năm 2011 thiết lập vào ngày 9/2 tới thời điểm này, VN-Index đã “bốc hơi” khoảng 26%, đưa Việt Nam trở thành thị trường chứng khoán “tệ” nhất châu Á. Mức giảm điểm này cũng đã thừa để đưa thị trường chứng khoán Việt Nam vào địa hạt thị trường đầu cơ giá xuống (“bear market” - thuật ngữ chỉ thị trường có mức giảm điểm từ 20% so với đỉnh gần nhất).

Nhiều chuyên gia trong và ngoài nước cho rằng, áp lực đối với giá cổ phiếu tại Việt Nam thời điểm hiện nay xuất phát từ tốc độ lạm phát cao giữa lúc tăng trưởng kinh tế chậm lại, lãi suất vay vốn cao, cũng như khả năng Ngân hàng Nhà nước tiếp tục thắt chặt chính sách tiền tệ.

“Các con số về lạm phát đều cao hơn dự kiến và mọi người lo ngại rằng, chỉ số giá tiêu dùng có thể tăng trên 20% trong năm nay. Đã xuất hiện tin đồn Ngân hàng Nhà nước có thể tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc và điều này sẽ tác động xấu tới dòng tiền chảy vào thị trường”, ông Nguyễn Duy Phong, nhà phân tích thuộc Công ty Chứng khoán ACB nói trên Bloomberg.

Theo thống kê mới nhất, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của Việt Nam tăng gần 19,8% trong tháng 5 vừa qua so với cùng kỳ năm trước, đánh dấu tháng tăng thứ 9 liên tục, sau khi tăng 17,5% trong tháng 4. Với tốc độ này, lạm phát của Việt Nam ở thời điểm hiện nay không còn kém tốc độ tăng giá hồi năm 2008 là mấy.

Trong một báo cáo vừa được công bố của HSBC về tình hình lạm phát tại Việt Nam, ngân hàng này nhận định, các áp lực lạm phát của Việt Nam vẫn còn chưa được đưa trở lại vòng kiểm soát. “Lạm phát của Việt Nam có thể vượt ngưỡng 20% trong những tháng sắp tới. Do vậy, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có khả năng sẽ chưa dừng những nỗ lực thắt chặt chính sách tiền tệ lại”, báo cáo có đoạn viết.

Đồng tình với quan điểm này, chuyên gia kinh tế Prakriti Sofat của quỹ Barclays Capital tại Singapore nhận định trên Bloomberg: “Kỳ vọng lạm phát gia tăng sẽ duy trì áp lực buộc Ngân hàng Trung ương Việt Nam tiếp tục thắt chặt chính sách tiền tệ”. Chuyên gia này dự báo, lãi suất tái cấp vốn sẽ được Ngân hàng Trung ương tăng lên “trong vài tuần tới đây”.

Cũng theo ông Sofat, lạm phát của Việt Nam sẽ đạt mức 22-23% vào giữa năm nay trước khi chính sách tiền tệ thắt chặt khiến hoạt động tín dụng phải co hẹp.

Giữa lúc lạm phát cao, tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam lại đang có chiều hướng chậm lại. Trong quý 1 năm nay, GDP tăng 5,43% so với cùng kỳ năm trước, giảm so với mức tăng 7,34% đạt được trong quý cuối của năm ngoái.

Báo Financial Times thì bình luận, dù đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế ấn tượng bình quân trên 7% trong thập kỷ qua nhưng Việt Nam phải chứng kiến “lạm phát cao, đồng tiền mất giá, thâm hụt thương mại và ngân sách, và vấn đề tài chính tại nhiều doanh nghiệp quốc doanh”.

Ngoài ra, theo nhận định của Công ty Quản lý quỹ VinaCapital được Bloomberg trích dẫn, mức lãi suất cho vay có nơi lên tới 28% đang tác động bất lợi tới hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp niêm yết. Theo quỹ này, tiền trả lãi vay đã trở thành một khoản lớn trong chi phí sản xuất của các doanh nghiệp tại Việt Nam.

“Lãi suất cao đang bào mòn sinh lực của các công ty nhỏ. Thanh khoản suy giảm cũng khiến thị trường thêm khát vốn”, ông Alan Phạm, chuyên gia kinh tế trưởng của VinaCapital, phát biểu.

Tính đến phiên giao dịch ngày 24/5, khối ngoại đã có 3 phiên liền bán ròng liên tục, với tổng mức bán ròng tương đương 5,2 triệu USD. Đây là chuỗi thời gian bán ròng liên tục dài nhất của các nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam kể từ đầu tháng 12 năm ngoái tới nay.

Trong bài viết có tựa đề “Vietnam stocks fall… and fall, and fall” (tạm dịch: “Chứng khoán Việt Nam rơi… và rơi, và rơi”), tờ Financial Times dẫn nhận định của ông Fiachra MacCana, người đứng đầu bộ phận nghiên cứu thuộc Công ty Chứng khoán Tp.HCM (HSC) cho rằng, giới đầu tư cổ phiếu tại Việt Nam đang tiến tới thời điểm “đầu hàng”.

“Thị trường đang rơi tự do vì chúng ta đang ở giai đoạn cuối của thị trường đầu cơ giá xuống, khi mà giới đầu tư buông xuôi và quăng mọi thứ qua cửa sổ”, ông MacCana nói trên Financial Times.

Tuy nhiên, chuyên gia này cũng tin rằng, tình hình kinh tế của Việt Nam đã trở nên ảm đạm đến mức mà mọi cái chỉ có thể tốt lên trong thời gian tới. “Có thể lạc quan về một thị trường mới nổi khi mọi cái đã đều xấu đi. Tình hình hiện tại càng tệ thì triển vọng càng tốt”, ông nói.

Theo ông McCana, sau một thời gian tăng trưởng mạnh rồi suy giảm chóng vánh, Chính phủ Việt Nam đã nhận ra sự cần thiết phải điều chỉnh và đang “kê những liều thuốc đắng”.

Mặc dù vậy, chuyên gia này cũng thận trọng cho rằng, tình hình kinh tế và thị trường chứng khoán Việt Nam chưa thể được cải thiện trong một sớm một chiều. “Sẽ còn có nhiều khó khăn trong quý 3 và 4 của năm nay”, ông McCana nói.

Thứ Bảy, 21 tháng 5, 2011

Đã nhìn thấy xu hướng giảm tốc độ lạm phát

“Trong 15 ngày đầu tháng 5/2011, giá một số mặt hàng thiết yếu trên thị trường thế giới như phân urê, khí hóa lỏng, gạo, đường, phôi thép và giá dầu mỏ… có xu hướng giảm”

 
Ảnh minh họa: Corbis
Báo cáo tình hình giá cả thị trường nửa đầu tháng 5 của Cục quản lý giá, Bộ Tài chính cho biết.

Và điều này đang tác động tích cực đến giá cả thị trường trong nước, góp phần kìm chế lạm phát cho dù lạm phát của tháng 5 vẫn được dự báo là sẽ tăng nhưng nhiều khả năng tăng thấp hơn dự báo trước đây (tăng 2-2,5%).

Theo nhận  định của Cục quản lý giá, trong 15 ngày đầu tháng 5/2011, giá các mặt hàng thiết yếu trong nước nhìn chung ổn định so với cùng kỳ tháng 4/2011.


Cụ thể, giá mặt hàng thực phẩm tươi sống ổn định; giá mặt hàng rau, củ, quả; đường trắng... có xu hướng giảm. Giá xăng dầu, sắt thép, ximăng... nhìn chung ổn định.


Đặc biệt, mặc dù có nhiều biến động, song so với đầu tháng, giá vàng vẫn giảm khá mạnh (giảm 51.000 đồng/chỉ tại thị trường Hà Nội và giảm 39.000 đồng/chỉ tại thị trường TP.HCM); tỷ giá VND/USD vào những ngày giữa tháng chủ yếu xoay quanh mốc 20.520-20.620 đồng/USD, tức là giảm 80-130 VND/USD so với đầu tháng.


Trong 15 ngày cuối tháng 5, Cục quản lý giá dự báo, do nhu cầu gạo thế giới thấp trong khi nguồn cung khá lớn, giá gạo thế giới và giá thóc, gạo trong nước tiếp tục ổn định như hiện nay hoặc giảm nhẹ. Tương tự, từ nay đến cuối tháng, giá mặt hàng thực phẩm tươi sống sẽ có xu hướng giảm do nguồn cung tăng lên (đặc biệt là các mặt hàng rau, củ quả) và nhu cầu tương đối ổn định.


Do vẫn chịu  ảnh hưởng về nguồn cung tăng nên giá đường thế giới tiếp tục giảm nhẹ vì vậy, giá đường trong nước trong 15 ngày cuối tháng 5 sẽ ổn định sau khi đã giảm 1.000 - 2.000 đồng/kg hồi đầu tháng. Thậm chí mặt hàng đường (là đầu vào của nhiều ngành sản xuất đồ uống, bánh kẹo...) tiếp tục xu hướng giảm do chịu áp lực bán ra của nhiều nhà máy đường để thu hồi vốn, lượng đường tồn kho cao và ảnh hưởng của đường nhập lậu.


Các mặt hàng thiết yếu khác như phân urê, ximăng, thép xây dựng theo dự báo của Cục quản lý giá sẽ tiếp tục ổn định hoặc giảm nhẹ trong thời gian tới. Trong khi đó thì chỉ có một số ít thuốc ngoại và nội có thể tăng với biên độ hẹp do các doanh nghiệp tiếp tục điều chỉnh giá một số loại thuốc do tác động của các yếu tố đầu vào theo lộ trình còn lại về cơ bản thị trường thuốc chữa bệnh cho người vẫn tiếp tục ổn định.


Đáng lưu ý là mặt hàng xăng dầu, theo ghi nhận của Cục quản lý giá, so với tháng 4/2011, trong nửa đầu tháng 5, do giá dầu thô trên thị trường thế giới giảm 5,61 USD/thùng (giảm 5,1%) nên ngoại trừ mặt hàng xăng RON 92 nhập khẩu tăng nhẹ (tăng 0,77%), các mặt hàng xăng dầu khác giảm rất mạnh như dầu hoả giảm 7,4 USD/thùng (giảm 5,34%), diesel giảm 7,83 USD/thùng (giảm 5,59%), dầu mazut giảm tới 25,78 USD/thùng (giảm 3,77%).


“Việc giá xăng dầu đi xuống chỉ là tạm thời và chỉ trong ngắn hạn vì vậy, trong thời gian tới, giá xăng dầu thế giới vẫn diễn biến phức tạp và khó có thể giảm mạnh”, Cục quản lý dự báo.

Bài đăng phổ biến