Hiển thị các bài đăng có nhãn đầu tư chứng khoán. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn đầu tư chứng khoán. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 6 tháng 12, 2014

Vì sao người Đức không thích chơi chứng khoán?

Có vẻ như người Đức nhìn nhận sở hữu cổ phiếu giống như một trò cờ bạc.
Đầu năm 1923, đồng mark Đức ở mức 7.260 mark đổi 1 USD. Đến tháng 10, siêu lạm phát khiến tỷ giá lên tới 65 tỷ mark. Các khoản tiết kiệm và đầu tư mang lại thu nhập cố định trở thành thứ vô giá trị. Tuy nhiên, có một khoản đầu tư vẫn giữ nguyên giá trị. Theo Frederick Taylor, cổ phiếu của các doanh nghiệp Đức vẫn có thể theo kịp lạm phát và có thể bảo vệ một số ít người đã đầu tư vào chúng.

90 năm sau, không phải siêu lạm phát mà lạm phát quá thấp đang đe dọa châu Âu. Thế nhưng, có một điều không hề thay đổi: hầu hết người Đức vẫn không muốn đầu tư vào các doanh nghiệp trong nước. Trong khi hơn một nửa người Mỹ đầu tư vào cổ phiếu của các doanh nghiệp Mỹ, chỉ 15% người Đức trực tiếp sở hữu cổ phiếu của doanh nghiệp Đức, 21% sở hữu các quỹ tương hỗ. Điều này càng đáng ngạc nhiên hơn khi chỉ số DAX của TTCK Đức đang ở mức cao kỷ lục và lãi suất ở mức thấp kỷ lục.

Kể từ sự kiện Lehman Brothers sụp đổ năm 2008 đến cuối tháng 10/2013, chỉ số DAX đã tăng gần 42%. Chỉ số MDAX (gồm các doanh nghiệp nhỏ hơn) tăng 93%. Lợi suất trái phiếu kỳ hạn 10 năm do chính phủ Đức phát hành mang lại lợi suất 31% trong cùng thời kỳ này, và trái phiếu công ty có lợi suất 29%. Người Đức vẫn thích để tiền vào các tài khoản tiết kiệm vốn an toàn hơn nhưng mang lại lợi suất thấp hơn nhiều

Có vẻ như người Đức nhìn nhận sở hữu cổ phiếu giống như một trò cờ bạc. Người Mỹ có các kênh tin tức cập nhật 24/24 các thông tin kinh tế tài chính với những chuyên gia hào hứng đưa ra lời khuyên đầu tư. Ví dụ gần nhất ở Đức là Dirk Müller - nhà giao dịch ở Frankfurt được biết đến với biệt danh “Mr DAX”. Đây là chuyên gia xuất hiện khá thường xuyên trên tivi và những cuốn sách của ông cũng được bán rất chạy. 

Tuy nhiên, ông là người hiếm hoi khuyên người Đức nên mạo hiểm đầu tư vào các tài sản ngoài Sparbücher (sổ tiết kiệm). Ông coi đây là "một trong những sản phẩm tồi tệ nhất mà các ngân hàng có thể cung cấp" bởi đây nhà đầu tư bị giới hạn số tiền và số lần mà họ có thể rút ra. Thêm vào đó, lãi suất cũng ở mức thấp hơn so với lạm phát.

Tuy nhiên, chỉ có rất ít người Đức nghe theo lời khuyên này. Theo khảo sát được Hiệp hội ngân hàng Đức thực hiện năm 2011, 30% người Đức cho biết họ tiết kiệm tiền "cho tuổi già", 27% cho "trường hợp khẩn cấp" và 27% để "mua các tài sản lớn". Chỉ có 7% nhắc đến việc "đầu tư làm giàu". Khi được hỏi nhân tố nào ảnh hưởng nhiều nhất đến quyết định đầu tư, 60% có câu trả lời là "an toàn", chỉ có 15% quan tâm đến lợi nhuận.

Thay vì chuyển sang các tài sản đầu tư sinh lợi nhiều hơn, người Đức phản ứng với lãi suất thấp bằng cách giảm tiết kiệm. Trong giai đoạn 2000 - 2008, lượng tiền tiết kiệm của các hộ gia đình Đức tăng lên đều đặn, lên đến 11,5% thu nhập. Tuy nhiên, tỷ lệ giảm xuống chỉ còn 10,3% trong năm ngoái. Ngân hàng bán lẻ Postbank nhận định tỷ lệ sẽ còn giảm mạnh hơn nữa trong tương lai. 

Các chính sách công cũng coi chứng khoán là tài sản đầu tư chứa đầy rủi ro, hoặc thậm chí là trái phép. Chính phủ duy trì chế độ theo dõi các nhân viên tư vấn một cách chặt chẽ, có hệ thống ghi lại bất cứ lời phàn nàn nào từ khách hàng. Thêm vào đó, luật bảo vệ người tiêu dùng yêu cầu nhân viên tư vấn phải đọc lời khuyên bắt buộc (giá cổ phiếu có thể đi lên cũng như đi xuống) bất cứ khi nào họ gặp gỡ khách hàng. 

Kết quả là, mặc dù người Đức có thu nhập khá cao nhưng tài sản ròng trung bình chỉ ở mức 51.400 euro - tương đương 69.221 USD. Đây là mức không chỉ thấp hơn của Pháp (115.800 euro), Hà Lan (103.600 euro) mà còn thấp hơn cả Hy Lạp (101.900 euro) và Slovakia (61.200 euro). Tỷ lệ sở hữu nhà ở mức thấp là lý do chính, nhưng người Đức chỉ kiếm được quá ít lợi nhuận từ những khoản tiết kiệm là lý do quan trọng hơn. Trong khi đó, chỉ số DAX Index vừa lập kỷ lục. 
Trí Thức Trẻ/Economist

Thứ Ba, 25 tháng 11, 2014

Mô hình Dupont

Hỏi: Tôi thường thấy nhắc đến mô hình Dupont trong phân tích báo cáo tài chính của doanh nghiệp (DN). Xin cho biết mô hình này được sử dụng như thế nào và tác dụng của nó với việc đánh giá hoạt động của DN ra sao?
           
Đáp: Mô hình Dupont là kỹ thuật được sử dụng để phân tích khả năng sinh lời của một doanh nghiệp bằng các công cụ quản lý hiệu quả truyền thống. Mô hình Dupont tích hợp nhiều yếu tố của báo cáo thu nhập với bản cân đối kế toán. Trong phân tích tài chính, người ta vận dụng mô hình Dupont để phân tích mối liên hệ giữa các chỉ tiêu tài chính. Chính nhờ sự phân tích mối liên kết giữa các chỉ tiêu tài chính, chúng ta có thể phát hiện ra những nhân tố đã ảnh hưởng đến chỉ tiêu phân tích theo một trình tự nhất định.

            
 Dưới góc độ nhà đầu tư cổ phiếu, một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất là hệ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE). Do vốn chủ sở hữu là một phần của tổng nguồn vốn hình thành nên tài sản, nên ROE sẽ phụ thuộc vào hệ số lợi nhuận trên tổng tài sản. Mối quan hệ này được thể hiện bằng mô hình Dupont như sau:
  
                             Hay, ROE = ROA x Đòn bẩy tài chính
               Vì vậy, mô hình Dupont có thể tiếp tục được triển khai chi tiết thành:
         Hay, ROE = Hệ số Lợi nhuận ròng x Hiệu suất sử dụng tổng tài sản x Đòn bẩy tài chính
              
 Trên cơ sở nhận biết ba nhân tố trên, doanh nghiệp có thể áp dụng một số biện pháp làm tăng ROE như sau:
         
     - Tác động tới cơ cấu tài chính của doanh nghiệp thông qua điều chỉnh tỷ lệ nợ vay và tỷ lệ vốn chủ sở hữu cho phù hợp với năng lực hoạt động.
           
  - Tăng hiệu suất sử dụng tài sản. Nâng cao số vòng quay của tài sản, thông qua việc vừa tăng quy mô về doanh thu thuần, vừa sử dụng tiết kiệm và hợp lý về cơ cấu của tổng tài sản.
           
   - Tăng doanh thu, giảm chi phí, nâng cao chất lượng của sản phẩm. Từ đó tăng lợi nhuận của doanh nghiệp.
         
Tóm lại, phân tích báo cáo tài chính bằng mô hình Dupont có ý nghĩa lớn đối với quản trị DN thể hiện ở chỗ có thể đánh giá đầy đủ và khách quan các nhân tố tác động đến hiêu quả sản xuất kinh doanh từ đó tiến hành công tác cải tiến tổ chức quản lý của doanh nghiệp.

UBCKNN

Kiến thức cơ bản về Lệnh thị trường

Hỏi: Tôi được biết Sở Giao dịch Chứng khoán Hồ Chí Minh chính thức áp dụng lệnh thị trường từ ngày 3/10/2012. Ban biên tập cho tôi biết rõ hơn về Lệnh thị trường?


Đáp: Ngày 1/10/2012, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước có Công văn số 3764/UBCK-PTTT gửi Sở Giao dịch chứng khoán Tp.HCM chấp thuận cho Sở Giao dịch chứng khoán Tp. HCM áp dụng chính thức lệnh thị trường kể từ ngày 3/10/2012. 

Lệnh thị trường là lệnh mua chứng khoán tại mức giá bán thấp nhất hoặc lệnh bán chứng khoán tại mức giá mua cao nhất hiện có trên thị trường.
- Mục đích của việc triển khai lệnh thị trường: Lệnh thị trường là loại lệnh gắn liền với phương thức giao dịch khớp lệnh liên tục. Việc áp dụng lệnh thị trường sẽ cung cấp cho nhà đầu tư thêm công cụ đặt lệnh, tạo tính linh hoạt trong đợt giao dịch khớp lệnh liên tục (hiện đang chiếm 80% tổng thời gian giao dịch). 
- Cách thức khớp lệnh của lệnh thị trường: 
+ Khi được nhập vào hệ thống giao dịch, lệnh thị trường mua sẽ được thực hiện ngay tại mức giá bán thấp nhất và lệnh thị trường bán sẽ thực hiện ngay tại mức giá mua cao nhất hiện có trên thị trường. Nếu khối lượng đặt lệnh của lệnh thị trường vẫn chưa được thực hiện hết, lệnh thị trường sẽ được xem là lệnh mua tại mức giá bán cao hơn hoặc lệnh bán tại mức giá mua thấp hơn tiếp theo hiện có trên thị trường và tiếp tục so khớp.

+ Nếu khối lượng đặt lệnh vẫn còn (khi khối lượng bên đối ứng đã hết), lệnh thị trường mua sẽ chuyển thành lệnh giới hạn mua cao hơn mức giá khớp cuối cùng một đơn vị yết giá, hoặc lệnh thị trường bán sẽ chuyển thành lệnh giới hạn bán thấp hơn mức giá khớp cuối cùng một đơn vị yết giá. 
Trường hợp giá khớp cuối cùng là giá trần đối với lệnh thị trường mua hoặc giá sàn đối với lệnh thị trường bán thì lệnh thị trường sẽ được chuyển thành lệnh giới hạn mua tại giá trần hoặc lệnh giới hạn bán tại giá sàn.


- Đặc điểm của lệnh thị trường:
 
+ Lệnh thị trường chỉ được sử dụng trong đợt giao dịch khớp lệnh liên tục.
+ Khi đặt lệnh thị trường, nhà đầu tư sẽ ghi “MP” tại trường mức giá. 
+ Lệnh thị trường sẽ tự động hủy nếu không có lệnh giới hạn đối ứng tại thời điểm nhập lệnh vào hệ thống giao dịch. 

- Khi sử dụng lệnh thị trường nhà đầu tư cần chú ý:
 
+ Với đặc điểm “chấp nhận mức giá thị trường” lệnh thị trường không đặt ra mức giá cụ thể, lệnh sẽ được khớp với các mức giá đối ứng tốt nhất trên thị trường.Vì vậy nhà đầu tư cần thận trọng và cân nhắc khi sử dụng.
+ Do có độ trễ trong quá trình xử lý của hệ thống giao dịch, lệnh thị trường có thể bị từ chối nếu hệ thống giao dịch chưa hoàn tất quá trình khớp lệnh xác định giá mở cửa hoặc hệ thống đang chuẩn bị dữ liệu tại thời điểm đầu phiên giao dịch buổi chiều. 

- So sánh các điểm khác nhau cơ bản giữa lệnh thị trường và lệnh giới hạn, có hai đặc điểm khác nhau cơ bản:
 
+ Thời gian lệnh được sử dụng: Lệnh thị trường chỉ được sử dụng trong khớp lệnh liên tục, trong khi lệnh giới hạn được sử dụng trong tất cả các đợt khớp lệnh. 

+ Giá khớp lệnh: Do chấp nhận mức giá thị trường nên lệnh thị trường không đặt ra mức giá cụ thể mà sẽ được khớp với các mức giá đối ứng tốt nhất trên thị trường. Trong khi đó, lệnh giới hạn đặt ra một mức giá cụ thể và lệnh chỉ được khớp tại mức giá bằng hoặc tốt hơn mức giá giới hạn đặt ra (nếu là lệnh giới hạn mua thì giá khớp thấp hơn hoặc bằng giá đặt mua, nếu là lệnh giới hạn bán thì giá khớp cao hơn hoặc bằng giá đặt bán). 

+ Đối với lệnh mua giá trần/bán giá sàn, khối lượng còn lại của lệnh chưa được khớp (nếu có) vẫn chờ trên sổ lệnh tại mức giá trần/sàn. Trong khi đó, khối lượng còn lại chưa được khớp (nếu có) của lệnh thị trường sẽ được chuyển thành lệnh giới hạn mua với giá cao hơn mức giá khớp cuối cùng một đơn vị yết giá (hoặc lệnh giới hạn bán với giá thấp hơn mức giá khớp cuối cùng một đơn vị yết giá), ngoại trừ trường hợp giá khớp cuối cùng là giá trần/sàn.    

UBCKNN

Hướng dẫn giao dịch UPCOM

1.      Chứng khoán đăng ký giao dịch:
Bao gồm cổ phiếu và trái phiếu chuyển đổi được chấp thuận đăng ký giao dịch tại TTGDHN.

2.      Thời gian giao dịch:

     - Từ 9h00-11h30    : Khớp lệnh liên tục và thỏa thuận
     - Từ 11h30-13h00  : Nghỉ  giữa phiên
     - Từ 13h00-14h15  : Khớp lệnh liên tục và thỏa thuận

Lưu ý: Lệnh có giá trị trong suốt thời gian giao dịch, không hết hạn trong thời gian nghỉ giữa phiên.

3.      Phương thức giao dịch:gồm phương thức khớp lện liên tục và phương thức thỏa thuận

4.      Ký quỹ giao dịch:
-      Khi đặt lệnh bán chứng khoán, nhà đầu tư phải có đủ số lượng chứng khoán đặt bán trên tài khoản giao dịch chứng khoán mở tại thành viên.
-      Khi đặt lệnh mua chứng khoán, nhà đầu tư thực hiện ký quỹ tiền giao dịch theo mức thoả thuận với thành viên và phải đảm bảo khả năng thanh toán giao dịch đúng thời hạn quy định.

5.      Nguyên tắc khớp lệnh:
a.    Ưu tiên về giá:
-      Lệnh mua có mức giá cao hơn được ưu tiên thực hiện trước;
-      Lệnh bán có mức giá thấp hơn được ưu tiên thực hiện trước;
b.   Ưu tiên về thời gian: Trường hợp các lệnh mua hoặc lệnh bán có cùng mức giá thì lệnh nhập vào hệ thống giao dịch trước sẽ được ưu tiên thực hiện trước;

6.      Đơn vị giao dịch và đơn vị yết giá:
a.    Đơn vị giao dịch
-      Không quy định đơn vị giao dịch đối với phương phức giao dịch thỏa thuận điện tử và thỏa thuận thông thường.
-      Khối lượng giao dịch tối thiểu là 10 cổ phiếu hoặc 10 trái phiếu chuyển đổi.
b.   Đơn vị yết giá:
-      Đối với cổ phiếu: đơn vị yết giá là 100 đồng
-       Đối với trái phiếu: không quy định đơn vị yết giá.

7.      Biên độ dao động giá:
Biên độ giao động giá trong ngày giao dịch:
a.    Đối với giao dịch cổ phiếu là +/- 10%.
b.   Đối với trái phiếu: Không áp dụng biên độ giao động giá.
Giá tối đa (Giá trần)    = Giá tham chiếu + (Giá tham chiếu x Biên độ dao động giá)
Giá tối thiểu (Giá sàn) = Giá tham chiếu – (Giá tham chiếu x Biên độ dao động giá)

8.      Giá tham chiếu:
a.    TTGDHN tính toán và công bố giá tham chiếu hàng ngày của các chứng khoán đăng ký giao dịch.
b.   Giá tham chiếu của cổ phiếu đang giao dịch là bình quân gia quyền của các giá giao dịch thoả thuận điện tử của ngày có giao dịch gần nhất.
c.    Trường hợp cổ phiếu mới đăng ký giao dịch, trong ngày giao dịch đầu tiên, TTGDHN chỉ nhận lệnh giao dịch thỏa thuận điện tử và không áp dụng biên độ dao động giá. Nếu trong ngày giao dịch đầu tiên không có giá thực hiện thì giá tham chiếu sẽ được xác định trong ngày giao dịch kế tiếp cho đến khi giá giao dịch được xác lập trên hệ thống.
d.   Trường hợp giao dịch cổ phiếu không hưởng cổ tức và các quyền kèm theo, giá tham chiếu tại ngày không hưởng quyền được xác định theo nguyên tắc lấy giá bình quân gia quyền của các giá giao dịch thoả thuận điện tử của ngày có giao dịch gần nhất điều chỉnh theo giá trị cổ tức được nhận hoặc giá trị các quyền kèm theo.
e.    Trường hợp tách, gộp cổ phiếu, giá tham chiếu tại ngày giao dịch trở lại được xác định theo nguyên tắc lấy giá bình quân gia quyền của các giá giao dịch thoả thuận điện tử của ngày có giao dịch trước ngày tách, gộp điều chỉnh theo tỷ lệ tách, gộp cổ phiếu.
f.     Các trường hợp khác do TTGDHN quyết định sau khi được sự chấp thuận của UBCKNN.

 9.     Sưa hủy lệnh đối với giao dịch thỏa thuận:
a.    Nhà đầu tư được phép sửa hoặc hủy lệnh chào mua, chào bán thỏa thuận điện tử. Đại diện giao dịch sửa hoặc hủy lệnh thỏa thuận điện tử cho khách hàng theo quy trình sửa, hủy lệnh giao dịch thỏa thuận do TTGDHN quy định.
b.   Giao dịch thoả thuận đã thực hiện trên hệ thống không được phép huỷ bỏ.
c.    Trong thời gian giao dịch, trường hợp đại diện giao dịch nhập sai giao dịch thỏa thuận của nhà đầu tư, đại diện giao dịch được phép sửa giao dịch thỏa thuận nhưng phải xuất trình lệnh gốc của nhà đầu tư, phải được bên đối tác giao dịch chấp thuận việc sửa đó và được TTGDHN chấp thuận việc sửa giao dịch thoả thuận. Việc sửa giao dịch thoả thuận của thành viên phải tuân thủ quy trình sửa giao dịch thỏa thuận do TTGDHN ban hành.

10. Thời gian hiệu lực của lệnh:
Lệnh chào mua, chào bán thỏa thuận điện tử có hiệu lực kể từ khi lệnh được nhập vào hệ thống đăng ký giao dịch cho đến khi kết thúc thời gian giao dịch trên hệ thống đăng ký giao dịch hoặc cho đến khi lệnh bị huỷ bỏ.

11. Giao dịch của nhà đầu tư n ư ớc ngo ài:
a.    Tỷ lệ nắm giữ của nhà đầu tư nước ngoài đối với cổ phiếu đăng ký giao dịch thực hiện theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Cụ thể, tỷ lệ nắm giữ của nhà đầu tư nước ngoài là 49%.
b.   TTGDHN hướng dẫn thủ tục tham gia giao dịch của nhà đầu tư nước ngoài.

   12.  Giao dịch chứng khoán của nhà đầu tư:
-      Nhà đầu tư chỉ được phép mở một tài khoản giao dịch chứng khoán tại một công ty chứng khoán. Trường hợp nhà đầu tư đã có tài khoản giao dịch chứng khoán niêm yết thì có thể dùng ngay tài khoản này để thực hiện giao dịch chứng khoán đăng ký giao dịch.
-      Nhà đầu tư không được phép đồng thời vừa mua vừa bán cùng một loại cổ phiếu trong một ngày giao dịch.
-      Trường hợp nhà đầu tư mở tài khoản lưu ký chứng khoán và tài khoản tiền tại thành viên lưu ký là ngân hàng thương mại được UBCKNN cấp phép hoạt động lưu ký thì phải đặt lệnh giao dịch chứng khoán qua thành viên hệ thống đăng ký giao dịch và thanh toán giao dịch tại thành viên lưu ký nơi nhà đầu tư có tài khoản chứng khoán.      

13.  Hình thức và thời hạn thanh toán:
Hình thức và thời hạn thanh toán của chứng khoán đăng ký giao dịch tuân thủ theo quy định về hình thức và thời hạn thanh toán chứng khoán được quy định tại Quy chế do TTLKCK ban hành.

Hướng dẫn giao dịch HNX : Phương Thức GD Sàn Hà Nội

1. Thời gian giao dịch:

- Từ 9h00-11h30    : Khớp lệnh liên tục và thỏa thuận
- Từ 11h30-13h00  : Nghỉ  giữa phiên
- Từ 13h00-14h30  : Khớp lệnh liên tục và thỏa thuận
- Từ 14h30-14h45  :  Khớp lệnh định kỳ đóng cửa và thỏa thuận
- Từ 14h45-15h00  :  Khớp lệnh thỏa thuận
Lưu ý: Lệnh có giá trị trong suốt thời gian giao dịch, không hết hạn trong thời gian nghỉ giữa phiên.

2. Giá tham chiếu:

a. Giá tham chiếu của cổ phiếu là bình quân gia quyền các giá thực hiện qua phương thức giao dịch báo giá của ngày có giao dịch gần nhất.
b. Đối với các cổ phiếu mới niêm yết hoặc cổ phiếu bị tạm ngừng giao dịch trong ngày đầu tiên giao dịch hoặc ngày giao dịch trở lại sẽ giao dịch không biên độ. Trong ngày giao dịch tiếp theo, giá tham chiếu của cổ phiếu này sẽ được tính như mục (a) ở trên.

3. Biên độ dao động giá:

- Biên độ dao động giá trong ngày giao dịch đối với cổ phiếu là ±10%.
- Không áp dụng biên độ dao động giá đối với các giao dịch trái phiếu.

4. Hiệu lực của lệnh:

Trong phiên giao dịch, lệnh giới hạn được nhập vào hệ thống giao dịch có hiệu lực cho đến hết phiên hoặc cho đến khi lệnh bị huỷ trên hệ thống.

5. Nguyên tắc giao dịch:

Các giao dịch phải được thực hiện thông qua công ty chứng khoán thành viên của Trung tâm GDCK Hà Nội.
-  Trước tiên, để thực hiện giao dịch nhà đầu tư phải có tài khoản giao dịch chứng khoán tại một công ty chứng khoán là thành viên của Trung tâm GDCK Hà Nội.
-  Khi đặt lệnh mua bán chứng khoán, nhà đầu tư phải đảm bảo đủ tỉ lệ ký quỹ trên tài khoản. Cụ thể là, khi đặt lệnh bán thì nhà đầu tư phải có đủ số chứng khoán trong tài khoản, còn khi đặt lệnh mua thì nhà đầu tư phải có đủ số tiền kí quỹ theo thoả thuận với công ty chứng khoán.

6. Phương thức giao dịch: Giao dịch báo giá và giao dịch thỏa thuận

Phương thức giao dịch báo giá:

1. Đơn vị yết giá:

+ Đối với cổ phiếu:100 đồng.
+ Đối với trái phiếu: không quy định.

2. Đơn vị giao dịch: 100 cổ phiếu hoặc 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) tính theo mệnh giá trái phiếu.

3. Khối lượng giao dịch tối thiểu: không quy định

4. Loại lệnh giao dịch: lệnh giới hạn.

5. Nguyên tắc thực hiện lệnh giao dịch báo giá:

- Các lệnh có mức giá tốt nhất được ưu tiên thực hiện trước.
- Nếu có nhiều lệnh cùng mức giá thì lệnh nào được nhập vào hệ thống trước sẽ được thực hiện trước.
-Nếu lệnh mua và lệnh bán cùng thoả mãn nhau về giá thì mức giá thực hiện sẽ là mức giá của lệnh được nhập vào hệ thống trước.
- Lệnh giao dịch có thể được thực hiện toàn bộ hoặc một phần theo bội số của đơn vị giao dịch.

6. Trình tự giao dịch báo giá:

- Sau khi nhà đầu tư đặt lệnh (mua/bán) tại các công ty chứng khoán, đại diện giao dịch của công ty chứng khoán sẽ nhập các lệnh của khách hàng vào hệ thống giao dịch tại TTGDCK Hà Nội.
- Các lệnh đặt này được hiển thị trên màn hình của đại diện giao dịch và màn hình thông tin của công ty chứng khoán.
- Các lệnh nhập vào hệ thống sẽ được tự động khớp ngay với các lệnh đối ứng có mức giá thoả mãn tốt nhất đã chờ sẵn trong hệ thống. Tức là, nếu thoả mãn về giá thì các lệnh mua có mức giá cao nhất sẽ được khớp với các lệnh bán có mức giá thấp nhất. Mức giá thực hiện được xác định là mức giá của lệnh được nhập vào hệ thống trước.
- Nếu ở cùng một mức giá mà có nhiều lệnh mua/lệnh bán thì lệnh nào nhập vào hệ thống trước sẽ được thực hiện trước.
- Các lệnh có thể được thực hiện một phần hoặc toàn bộ (nếu các lệnh đối ứng đáp ứng được toàn bộ khối lượng). Các lệnh chưa được thực hiện hoặc mới thực hiện một phần sẽ được lưu lại trên hệ thống để chờ thực hiện với các lệnh mới.
- Kết quả giao dịch sẽ được hiển thị trực tuyến trên màn hình thông tin của các công ty chứng khoán.
Kết thúc phiên giao dịch, TTGDCK Hà Nội sẽ xác nhận kết quả giao dịch với công ty chứng khoán thành viên và công ty chứng khoán thành viên thông báo cho khách hàng.  

7. Sửa lệnh giao dịch báo giá:

- Trong phiên giao dịch, các lệnh đã nhập vào hệ thống không được phép sửa, trừ trường hợp sửa giá và trường hợp đại diện giao dịch (sau đây viết tắt là ĐDGD) nhập sai so với lệnh gốc của khách hàng.
- Trường hợp sửa giá theo yêu cầu của khách hàng, ĐDGD được tiến hành sửa lệnh ngay trên hệ thống.
- Trường hợp nhập sai lệnh của khách hàng so với lệnh gốc, ĐDGD được phép sửa lệnh theo trình tự trong quy trình Sửa lệnh giao dịch báo giá. Trường hợp này sẽ tính vào lỗi của ĐDGD.
- Việc sửa lệnh giao dịch báo giá chỉ được thực hiện đối với các lệnh chưa được khớp hoặc phần chưa được khớp của lệnh.

8. Hủy lệnh giao dịch báo giá:

Trong phiên giao dịch, ĐDGD được thực hiện huỷ lệnh theo yêu cầu của khách hàng đối với các lệnh chưa được khớp hoặc phần chưa được khớp của lệnh.

9. Hình thức thanh toán: Tất cả các giao dịch báo giá (gồm giao dịch cổ phiếu) được thanh toán theo hình thức thanh toán đa phương (T+3).

Phương thức giao dịch thỏa thuận:

1. Đơn vị yết giá: không quy định.

2. Đơn vị giao dịch: không quy định

3. Khối lượng giao dịch tối thiểu

- Đối với cổ phiếu: 5.000 cổ phần. (Trên 100.000 cổ phần có quyền lựa chọn phương thức thanh toán T+1)
- Đối với trái phiếu: 100.000.000 đồng (100 triệu đồng) tính theo mệnh giá.

4.Trình tự giao dịch thoả thuận

+ Trường hợp đã xác định được đối tác giao dịch:
Nếu nhà đầu tư đã tìm được đối tác giao dịch và đã hoàn tất thoả thuận giao dịch thì thông báo cho công ty chứng khoán về thoả thuận này, công ty chứng khoán sẽ thực hiện nhập lệnh giao dịch vào hệ thống của Trung tâm GDCK Hà Nội.
+ Trường hợp chưa xác định được đối tác giao dịch:
         * Khi có nhu cầu giao dịch, nhà đầu tư sẽ đặt lệnh mua/lệnh bán tại CTCK.
         * Căn cứ vào lệnh của nhà đầu tư, công ty chứng khoán sẽ nhập lệnh vào hệ thống giao dịch tại TTGDCK Hà Nội, ngay lập tức các lệnh đó sẽ được hiển thị trên sổ lệnh của thị trường.
          * Căn cứ vào thông tin trên sổ lệnh, các CTCK sẽ liên lạc với nhau để giúp nhà đầu tư tìm kiếm và thoả thuận với các đối tác giao dịch về mức giá và khối lượng giao dịch. Khi đạt được thoả thuận, CTCK sẽ thực hiện lệnh giao dịch cho nhà đầu tư.
         * Hệ thống giao dịch của TTGDCK Hà Nội sẽ nhận và xác nhận các lệnh giao dịch do công ty chứng khoán nhập vào và sẽ đưa ra kết quả giao dịch tổng hợp của toàn thị trường.
          * Kết quả giao dịch thỏa thuận sẽ được hiển thị ngay trên màn hình của đại diện giao dịch và màn hình thông tin của CTCK.
  
5. Sửa lệnh giao dịch thỏa thuận
Trong giờ giao dịch, trường hợp phát hiện sai lệch so với lệnh gốc sau khi lệnh giao dịch thỏa thuận đã được xác nhận, ĐDGD được phép sửa lệnh giao dịch thỏa thuận theo Quy trình sửa lệnh giao dịch thỏa thuận.
Thời gian sửa lệnh giao dịch thỏa thuận phải được hoàn tất chậm nhất là 15 phút trước khi phiên giao dịch kết thúc.

6. Hình thức thanh toán:
 + Các giao dịch có khối lượng nhỏ hơn 100.000 cổ phiếu: áp dụng hình thức thanh toán đa phương với chu kỳ T+3
+ Các giao dịch có khối lượng lớn hơn hoặc bằng 100.000 cổ phiếu :Trực tiếp với chu kỳ thanh toán từ T+1
+ Đối với trái phiếu: Giao dịch thỏa thuận + báo giá: Thanh toán đa phương T+1.

Bài đăng phổ biến