Hiển thị các bài đăng có nhãn Phân tích cơ bản. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phân tích cơ bản. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 24 tháng 5, 2011

Cổ tích và GDP

GDP (Gross Domestic Product) là tổng các sản phẩm và dịch vụ được mua và bán, không phân biệt là những giao dịch đó làm cho cuộc sống tốt đẹp lên hay tồi tệ đi. Nói cách khác, GDP chỉ đo duy nhất một thứ là dòng chảy tiền tệ trong nền kinh tế.

Thay vì bóc tách những hoạt động tạo ra lợi ích và những hoạt động mang tính hủy hoại, GDP cho rằng mọi giao dịch tiền tệ đều tốt cho nền kinh tế và vì vậy tốt cho cuộc sống. Có đúng vậy không?

Chuyện cổ tích kể rằng có một nàng tiên là chim Hạc trên trời bị đày xuống trần gian làm người, và vì ơn cứu tử mà nàng lấy phải một người chồng nghiện rượu. Nhà nghèo túng, mỗi lần chồng đòi tiền uống rượu, nàng phải kín đáo hóa thành chim Hạc và nhổ vài cọng lông để dệt lụa bán lấy tiền.


Ngày tháng qua, chàng cứ ngày ngày tiêu tiền, uống rượu, còn nàng thì ngày càng hao gầy. Đến một ngày nàng kiệt sức, không còn hóa lại kiếp tiên được nữa, nàng chết, chàng khóc than thì đã muộn màng.


Nếu một nhà kinh tế học ngày nay cộng tiền bán lụa của nàng và tiền mua rượu của chàng thì sẽ ra con số GDP của gia đình này, và nếu đọc “báo cáo kinh tế” của gia đình, có khi thấy sự tăng trưởng - tháng sau cao hơn tháng trước, nhưng rõ ràng đây không phải là sự phát triển bền vững. Như vậy, cần phân biệt sự “tăng trưởng” - đo bằng GDP - với sự phát triển bền vững.


Mặt khác của tăng trưởng GDP

Ở một làng nọ, nạn trộm cắp hoành hành làm người dân khốn khổ. Nhà nào cũng phải xây hàng rào cao, gắn miểng chai, mua thêm ổ khóa, nuôi chó giữ nhà... Tất cả các khoản chi tiêu ấy sẽ được tính vào GDP của làng.


Các con đường làng thì đầy ổ gà, ổ voi, người dân lại thiếu ý thức giao thông nên tai nạn xảy ra thường xuyên, nhiều người bị thương và phải nhập viện. Các chi phí chữa trị cũng được tính vào GDP của làng. Như vậy, tệ nạn xã hội và tai nạn giao thông giúp tăng GDP!


Trong làng có một gia đình, người cha già yếu lo lắng cho con cái bằng cách vay tiền hàng xóm để mở cho con một cửa hàng. Sau đó cha mất. Tiền cha vay được tính vào GDP. Cửa hàng buôn bán phát đạt, tăng thêm GDP.


Trong khi đó, ở một gia đình khác, người cha đi vay tiền để xây căn nhà to cho nở mặt nở mày với hàng xóm. Cha giao cho người anh cả ước lượng chi phí xây nhà. Người anh cả tham lam báo với cha con số chi phí cao hơn để lấy tiền đi ăn nhậu, cha phải đi vay thêm. Lại chẳng may cha thuê nhằm một nhóm thợ gian dối, xây nhà kém chất lượng. Sau vài năm thì căn nhà mục nát và người con út phải gồng lưng trả món nợ xây nhà của cha lẫn tiền vay thêm để xây lại căn nhà mới. Toàn bộ các khoản tiền người cha đi vay và người con út đi vay đều được tính vào GDP của gia đình.


Như vậy, GDP tăng nhờ vay tiền đầu tư và tiêu xài.


Rồi cả làng, ai cũng muốn tăng trưởng GDP nên từ chối việc tự chăm sóc con cái và cha mẹ già (vì những công việc tự làm không có giao dịch tiền tệ, nên không được tính vào GDP, không giúp tăng trưởng GDP). Thay vào đó, người này thuê người kia quét nhà cho mình, còn mình thì đi trông con cho nhà khác, nhà khác thì đi làm thuê cho nhà khác nữa. Cuối cùng, GDP của làng tăng vượt bậc!


Ở một làng khác, thiên nhiên còn tốt tươi, cá dưới sông nhiều vô kể, nhà nhà cứ việc đến bữa cơm là quăng chài, giăng lưới, đem cá về rồi tự nấu ăn (vì bán cũng không ai mua). Quanh năm suốt tháng và có khi là cả đời người, người dân trong làng không phải tốn đồng nào để mua cá ăn, vì vậy, lợi ích về cá không được tính vào GDP. Một kinh tế gia từ xa đến đọc “báo cáo kinh tế” của làng và lắc đầu buồn bã bảo rằng, làng này nghèo quá, không tăng trưởng GDP gì cả! Sau đó, có một nhà máy mọc lên gây ô nhiễm dòng sông, cá chết hết, nhưng sự mất mát này không được tính vào GDP.


Như vậy, GDP không tính những thứ không qua mua bán và không tính sự cạn kiệt tài nguyên.


Nhà máy gây ô nhiễm do vài gia đình hùn vốn đầu tư nên thu nhập của nhà máy chủ yếu là cho các gia đình có hùn vốn. Những gia đình khác được hưởng lợi từ việc đi làm thuê cho nhà máy nhưng không còn được hưởng nguồn cá dưới sông.


Các hoạt động gây ô nhiễm dòng sông của nhà máy được tính vào GDP. Sau đó, làng không còn nước sạch nên lập ra một quỹ với số tiền lớn để xử lý ô nhiễm. Số tiền này lại được tính vào GDP của làng. Tại cuộc họp làng, có người kêu lên: “Nhờ có nhà máy gây ô nhiễm, GDP làng ta tăng lên!”. Ô nhiễm tăng, GDP cũng tăng!


Thước đo mới: GPI


GPI (Genuine Progress Indicator), tạm dịch là chỉ số tiến bộ thực, là một khái niệm mới để đo sức khỏe kinh tế của một quốc gia, được đưa ra vào những năm 1990 và được những người thuộc trường phái “kinh tế xanh” cổ vũ.


Không hoàn toàn loại bỏ GDP, GPI là sự mở rộng, cho thấy bức tranh toàn diện hơn của sự phát triển. GPI tính thêm khoảng 50 khía cạnh của đời sống mà GDP bỏ qua, bao gồm những yếu tố xã hội và môi trường. Ngoài ra, nó còn tách bạch những giao dịch kinh tế làm tăng chất lượng cuộc sống và những giao dịch làm suy giảm chất lượng cuộc sống. GPI lồng ghép tất cả các yếu tố này vào một chỉ số tổng hợp, đặt lên bàn cân để so sánh lợi ích và chi phí.


Trong câu chuyện về làng có nạn trộm cắp và tai nạn giao thông nói trên, GDP sẽ tính tất cả chi phí bệnh viện, chi phí kiện cáo, tiền mua ổ khóa, làm thêm hàng rào..., trong khi GPI sẽ trừ các con số này ra. GPI vì vậy là công cụ đo sức khỏe của nền kinh tế tốt hơn, giúp né tránh con đường phát triển mà sự tổn thất cho thế hệ hôm nay và mai sau (không được nhìn thấy trong GDP) lớn hơn lợi ích.


Nếu một hoạt động kinh tế ngày nay làm cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, chức năng sinh thái, hủy hoại môi trường, thì nó không thực sự cải thiện cuộc sống, nó vay của các thế hệ mai sau. GDP xem sự vay mượn này là thu nhập cho thế hệ hiện tại, còn GPI sẽ tính sự suy thoái hệ sinh thái, đất đai như là chi phí.


Vào năm 1994, Clifford Cobb, Ted Halstead, và Jonathan Rowe đã cho ra kết quả GPI của Mỹ và tạo ra sự “giật mình” vì nó rất khác biệt với kết quả tăng trưởng đo bằng GDP. Kết quả GPI đó cho thấy tình trạng thực sự của nguồn vốn tự nhiên, xã hội, con người, và vật chất của Mỹ không phải tốt như người ta tưởng.


* * *


Hiện nay, vì mục tiêu tăng trưởng kinh tế, các quốc gia ở vùng hạ lưu sông Mêkông dự kiến xây các đập thủy điện trên dòng chính, tạo ra một danh sách dài những rủi ro tổn thất to lớn. Thu nhập từ các dự án thủy điện được tính vào tăng trưởng GDP rất dễ dàng, nhưng muôn vàn những “chi phí” khác đối với hàng chục triệu người sống trong lưu vực - ở thế hệ hôm nay và những thế hệ mai sau, sẽ không hiện diện trong cách thống kê kinh tế thông thường bằng GDP.


Vẫn biết sự tăng trưởng là cần thiết và để phát triển đôi khi phải chấp nhận thay đổi hoặc đánh đổi. Nhưng nếu “tổng cái lợi” nhỏ hơn “tổng cái thiệt hại” thì chẳng nên đánh đổi. Và một khi còn những rủi ro chưa được hiểu rõ hoặc chưa chắc chắn có biện pháp khắc phục thì nguyên tắc cẩn trọng là nguyên tắc vàng trong việc ra quyết định để không phải hối tiếc về sau.

Thứ Sáu, 20 tháng 5, 2011

Lịch sử hình thành thị trường FOREX

Thỏa ước The Bretton Woods (The Bretton Woods Agreement)
Vào năm 1967, một ngân hàng Chicago từ chối cho một giáo sư đại học tên Milton Friedman vay một lượng tiền bằng bảng Anh (Pound Sterling) bởi vì ông ta dự định sử dụng số tiền này để bán và mua lại đồng USD, ông ta đã nhận ra rằng đồng Pound có giá quá cao so với đồng USD. Ông ta muốn bán khoản tiền mặt này, và sau đó mua lại nó khi giá đồng Pound rớt xuống thấp và trả lại cho ngân hàng. Dĩ nhiên bằng cách này ông ta nhanh chóng thu được lợi nhuận. Lời từ chối của ngân hàng dẫn đến thỏa ước the Bretton Woods Agreement được thiết lập 20 năm sau đó. Thỏa ước the Bretton Woods Agreement lấy đồng dollar (USD) làm tiêu chuẩn, và thiết lập tỷ giá giữa vàng và USD là 35$/ 1 ounce.

Thỏa ước the Bretton Woods Agreement được thiết lập vào năm 1944 hướng đến mục tiêu xây dựng một chính sách tiền tệ vững chắc nhằm ngăn chặn tiền mặt tự do chuyển sang những nước khác. Ngăn chặn việc đầu cơ tiền tệ trên thế giới, lấy vàng làm tiêu chuẩn trao đổi - thịnh hành từ năm 1876 cho tới chiến tranh thế giới lần thứ I, nó kiểm soát hệ thống nền kinh tế thế giới. Bằng việc dùng vàng trao đổi, các đồng tiền bước vào một thời kỳ mới với sự vững chắc nhờ sự che chắn của giá vàng. Vào thời cổ đại do các ông vua và những nhà độc tài chuyên chế sử dụng vàng trong giao dịch là chính và hạ thấp giá trị của tiền gây ra tình trạng lạm phát.

Tuy nhiên, tiêu chuẩn dùng và để trao đổi cũng không thiếu những “khiếm khuyết”. Khi nền kinh tế mạnh lên, việc nhập khẩu hàng hóa từ nước ngoài tăng lên nhanh chóng. Nhưng khi nền kinh tế suy yếu, dự trữ vàng quốc gia được yêu cầu tung ra để mua lại lượng tiền đã chạy ra nuớc ngoài, kết quả là tiền bị mất giá, tỷ lệ lãi suất giảm và nền kinh tế bắt đầu hoạt động chậm lại và dẫn đến tình trạng suy thoái. Cuối cùng giá hàng hóa tăng lên quá mức bình thường của nó, và dĩ nhiên lúc này sức hút của việc bán hàng hóa sang các nước khác tăng cao. Điều này dẫn đến việc sức mua tăng ồ ạt và giá vàng lúc này tăng lên cao, tỷ lệ lãi suất rớt xuống thấp tạo ra sự thịnh vượng cho nền kinh tế. Dùng vàng làm tiêu chuẩn giao dịch thịnh hành cho đến khi kết thúc chiến tranh thế giới thứ I, chấm dứt các luồng giao dịch và lúc này vàng được di chuyển tự do.

Sau chiến tranh hiệp ước the Bretton Woods được thành lập. Các nước tham gia hiệp ước đồng ý duy trì giá trị các đồng tiền riêng của họ bằng số tiền bảo chứng tương đương với đồng Dollars và tỷ lệ vàng tương ứng như nhu cầu. Các nước bị cấm hạ thấp giá đồng tiềng riêng của họ để thuận lợi cho việc giao dịch với nước ngoài, và chỉ được phép hạ thấp giá nhỏ hơn 10%. Vào những năm 50 của thế kỷ 19, khi lượng tiền tệ giao dịch quôc tế được mở rộng dẫn đến những nguồn vốn cho phục vụ tái thiết và xây dựng lại do hậu quả của chiến tranh di chuyển một cách ồ ạt. Điều này đã dẫn đến việc làm mất ổn định tỷ giá trao đổi ngoại tệ đã được thiết lập trong hiệp ước the Bretton Woods.

Hiệp ước the Bretton Woods cuối cùng bị xóa bỏ vào năm 1971, và lúc này đồng dollar (USD) có thể sử dụng thay thế cho vàng (gold). Vào năm 1973, các đồng tiền của những quốc gia công nghiệp phát triển được thả nổi tự do, lúc này nguồn lực điều khiển tỷ giá chính phụ thuộc vào sức cung-cầu (supply and demand) của nền kinh tế, chúng là động lực chính tác động vào thị trường ngoại hối. Tỷ giá của các cặp đồng tiền này được thả nổi hàng ngày, với lượng tiền giao dịch lớn, tốc độ và tỷ giá không ngừng biến đổi trong suốt những năm 70 của thế kỷ 20, việc áp dụng những công cụ tài chính mới vào thị trường, dẫn đến những quy luật trước đó dần bị xóa bỏ và bước sang một thời kỳ tự do hóa thương mại toàn cầu.

Vào những năm 80, biên độ di chuyển đồng vốn không ngừng mở rộng nhờ sự phát triển bùng nổ của ngành máy tính và kỹ thuật công nghệ, thị trường không ngừng mở rộng xuyên suốt từ châu Á, châu Âu và châu Mỹ… Lượng tiền giao dịch trong thị trường ngoại hối tăng lên một cách đột ngột từ 70 tỷ dollars mỗi ngày lên 1,5 ngàn tỷ USD/ngày trong hai thập kỷ sau đó.

Thị trường châu Âu (The Euromarket)
Yếu tố chính tạo ra lượng giao dịch ngoại hối tăng lên một cách nhanh chóng là sự phát triển mạnh của thị trường đồng Euro/USD; Đồng USD lúc này đựơc gửi trong các ngân hàng ngoài nước Mỹ cũng tương tự như đồng Euro. Thị trường châu Âu là nơi tài sản có thể được gửi bằng đồng ngoại tệ thay cho đồng nội tệ. Thị trường đồng Euro/USD bắt đầu thành lập từ năm 1950 khi tổng thu nhập dầu mỏ của nước Nga tất cả tính bằng dollar và được gửi ở các ngân hàng ngoài nước Mỹ vì sợ bị đóng băng bởi các nhà làm luật nước Mỹ. Lúc đó một khối lượng dollar nằm ngoài tầm kiểm soát của các quan chức Mỹ. Chính quyền nước Mỹ lúc này áp dụng các điều luật cấm gửi tiền dollar ra nước ngòai. Thị trường châu Âu lúc này có sức thu hút một cách đặc biệt bởi họ có ít các quy định và lượng hàng hóa sản xuất ra nhiều hơn. Từ năm 1980 trở đi các công ty Mỹ bắt đầu vay tiền từ nước ngoài nhiều hơn, tìm kiếm các trung tâm tài chính ở châu Âu có khả năng thanh toán tiền mặt cung cấp các khoản vay ngắn hạn và tài chính cho việc xuật nhập khẩu.

London lúc này là một trong những trung tâm tài chính mạnh nhất. Vào năm 1980, nó trở thành một trung tâm chính của đồng thị trường đồng Euro/USD. Khi các ngân hàng của nước Anh bắt đầu vay tiền bằng đồng dollars thay cho đồng bảng Anh (Pound). Để duy trì vị trí hàng đầu trong thị trường tài chính toàn cầu. Vị trí địa lý của London cũng rất thuận tiện (hoạt động xuyên suốt từ thị trường châu Á tới châu Mỹ) chiếm ưu thế vượt trội trong thị trường Châu Âu.
Giao dịch Forex có lợi gì
Trao đổi ngoại tệ là mua một đồng tiền này bán một đồng tiền khác cùng một lúc. Thị trường trao đổi ngoại tệ (Forex) là thị trường tài chính lớn nhất trên thế giới, với lượng giao dịch trên 1,3 ngàn tỷ USD mỗi ngày; lớn hơn gấp 3 lần lượng chứng khoán và ngân khố Hoa Kỳ kết hợp lại. Không như các thị trường tài chính khác, thị trường Forex không có một trung tâm hay sàn giao dịch chính thức. Thị trường hoạt động thông qua mạng điện tử của các ngân hàng, các tập đoàn tài chính, và những cá nhân giao dịch tiền tệ với nhau. Việc không phụ thuộc vào vị trí địa lý giao dịch cho phép thị trường Forex hoạt động 24 giờ một ngày, xuyên suốt từ múi giờ này tới múi giờ của những trung tâm tài chính khác nhau.Theo truyền thống, các nhà đầu tư chỉ sử dụng các phương thức truyền thống của thị trường tài chính là thông qua các ngân hàng và giao dịch với lượng tiền rất lớn cho mục đích thương mại và đầu tư. Lượng tiền giao dịch gia tăng một cách nhanh chóng theo thời gian, đặc biệt sau khi tỷ giá của các cặp tiền tệ được thả nổi tự do vào năm 1971.

Lợi thế kinh doanh Forex

Thị trường họat động 24giờ một ngày, một doanh nhân có thể tận dụng tối đa những điều kiện lợi nhuận tại bất ký thời điểm nào trong ngày, không cần phải chờ đợi tiếng chuông rung lên.

Khả năng thanh toán bằng tiền mặt cao - Thị trường ngoại hối với tổng giao dịch trung bình trên $1.3 ngàn tỷ mỗi ngày. Nó là một thị trường luân chuyển linh động nhất thế giới. Điều đó có nghĩa là các nhà đầu tư có thể vào hoặc ra thị trường tuỳ ý trong tất các các điều kiện thị trường thời điểm hoạt động hoặc mạo hiểm thấp và không giới hạn mỗi ngày.

Phí giao dịch thấp: Phí giao dịch cho các tài khoản lẻ (the bid/ask spread) thông thường ít hơn 0.1% (10 pips hoặc point) đối với các điều kiện thị trường thông thường. Tại các đại lý lớn, mức chênh lệch có thể nhỏ hơn.

Không tương quan với thị trường chứng khoán - Một doanh nhân trong thị trường Forex chỉ quan tâm tới việc mua hay bán một đồng tiền này với một đồng tiền khác. Vì thế, không có sự liên quan giữa thị trường tiền tệ và chứng khoán. Thị trường lên hay xuống đối với một đồng tiền được định nghĩa bằng quan điểm của những sự liên hệ giá trị của một đồng tiền này với một đồng tiền khác. Nếu quan điểm lạc quan, chúng ta có thị trường tăng giá mà một doanh nhân được lợi nhuận từ việc mua đồng tiền đối với những đồng tiền khác. Ngược lại, nếu quan điểm bi quan, chúng ta có một thị trường tăng giá của những đồng tiền khác và những doanh nhân có thể thu lợi nhuận bằng việc bán một đồng tiền đối với những đồng tiền khác. Một trong hai trường hợp, luôn là cơ hội giao dịch thị trường tốt cho những doanh nhân.

Liên ngân hàng - Rừng cột của thị trường Forex bao gồm mạng toàn cầu của các đại lý. Họ là những ngân hàng thương mại chính trao đổi, giao dịch với nhau và với khách hàng của họ thông qua các mạng điện toán và điện thọai. Không có những tổ chức giao dịch để phục vụ một trung tâm quản lý giao dịch giống như New York Stock Exchange phục vụ thị trường chứng khóan. Thị trường Forex hoạt động tương tự như thị trường chứng khoán NASDAQ của Hoa Kỳ hoạt động, do đó nó hoạt động như là thị trường OTC.

Không ai có thể làm lũng đọan thị trường - Thị trường Forex quá rộng lớn và có nhiều người tham gia chứ không phải là một thực thể độc lập, thậm chí ngân hàng trung tâm cũng không thể điều khiển được tỷ giá thị trường trong một thời gian được nới rộng. Thậm chí tất cả sự can thiệp bởi ngân hàng trung ương đều trở nên vô hiệu và ngắn hạn. Vì thế những ngân hàng trung ương đang ngày càng ít có xu hướng can thiệp việc thao túng giá thị trường.
Cơ bản về giao dịch Forex
Trên thị trường Forex ,bạn thực hiện giao dịch ,bạn thực hiện việc mua vào và bán ra các cặp tiền tệ . Các cặp tiền tệ được liệt kê theo dạng ngoại tệ 1/ngoại tệ 2.Đây chính là giá của ngoại tệ 1 bằng ngoại tệ 2 ,tức là 1 đơn vị ngoại tệ 1 ăn được bao nhiêu đơn vị ngoại tệ 2 . Khi thực hiện giao dịch bạn có thể thực hiện theo 2 cách

+Long:
Bán ngoại tệ 2 mua ngoại tệ 1 ,khi nào tỷ giá ngoại tệ 1/ngoại tệ 2 lên thì bán ra thu về ngoại tệ 2 kiếm lợi

+Short:
Bán ngoại tệ 1 mặc dù bạn ko sở hữu nó ,lây ngoại tệ 2 ,sau đó chờ tỷ giá ngoại tệ 1/ngoại tệ 2 xuống thì mua lại ngoại tệ 1 bù cho số bạn đã bán

Trong giao dịch forex , khối lượng giao dịch được tính bằng lot,1 lot bằng 10000USD ,một số công ty cho mở tài khoản nhỏ ,khối lượng giao dịch có thể tính bằng microlot =1000USD

Chênh lệch 0,0001 điểm của tỷ giá gọi là 1 pip

Khi bạn mua bán ,bạn sẽ thấy tỷ giá ko hiển thị thành một ,mà được chia thành Bid và Ask. Bid là giá chào bán ngoại tệ 1,còn ask là giá chào mua ngoại tệ 1 .

Bid là giá mà bạn nhận được khi bạn bán ngoại tệ 1 cho công ty môi giới .Tức là số ngoại tệ 2 mà bạn nhận được khi bạn bán ngoại tệ 1 cho công ty.

Ask là giá mà bạn nhận được khi bạn mua ngoại tệ 1 từ công ty môi giới .Tức là số ngoại tệ 2 mà bạn phải trả cho công ty khi bạn mua ngoại tệ 1

Giá bid luôn thấp hơn giá ask .Khoảng chênh lệch giữa giá bid và ask được gọi là 1 spread ,khoảng này thông thường tầm 0,0003 đến 0,0006 (3 đến 6 pips,1pip=0,0001 điểm của tỷ giá).Đây chính là khoảng lãi của công ty .Họ ko thu phí hoa hồng khi thực hiện lệnh của bạn ,nhưng họ ăn tiền của bạn thông qua việc bạn mua vào hay bán ra .Khi bạn đặt lệnh ,chẳng hạn lệnh mua ngoại tệ 1 bằng ngoại tệ 2,bạn phải chịu tỷ giá ask,ngay lập tức bạn bị lỗ do nếu bây giờ bạn bán ra thì bạn chịu tỷ bid ,khoảng lỗ ấy chính là tiền lãi của công ty .

Vậy khi nào bạn có lãi : bạn có lãi trong các tình huống sau

+ khi vị thế giao dịch là long:khi tỷ giá bid cao hơn tỷ giá ask lúc bạn mua

+ khi vị thế giao dịch là short:khi tỷ giá ask xuống thấp hơn tỷ giá bid lúc bạn bán

Các kiểu lệnh giao dịch với cặp ngoại tệ 1/ngoại tệ 2:

Buy:Bán ngoại tệ 2 mua ngoại tệ 1

Sell:Bán ngoại tệ 1 mua ngoại tệ 2

Lệnh thực hiện có 2 kiểu : kiểu imtermediately và kiểu pending order

imtermediately là lệnh thực hiện ngay lập tức trong điều kiện hiện tại của thị trường

pending order là lệnh thực hiện theo một điều kiện nào đó của thị trường

Trạng thái lệnh : có 2 trạng thái là open và close ,open là lệnh đang thực hiện ,còn close là đóng lại ,ko thực hiện gì nữa .

Các loại lệnh khác
Take profit (TP): Xác định điểm bán ra( với vị thế long) hay mua vào(với vị thế short) nhằm thu lời
Stop loss (SL): Xác định điểm bán ra (với vị thế long) hay mua vào(vị thế short) nhằm cắt giảm thiệt hại khi dự đoán của bạn ko đúng với thị trường
Ngoài ra còn có một điều kiện thực hiện lệnh như buy limit ,sell limit ,buy stop và sell stop .Đây là những điều kiện mà bạn đặt ra ,nếu thị trường thỏa mãn thì thực hiện lệnh.Tôi sẽ nói sau
Đến đây là bạn đã có những điều kiện căn bản để bắt tay vào giao dịch
( Sưu tầm)

Tìm hiểu về quỹ đầu tư mang tên HEDGE FUNDS - PI

Hedge Fund đầu tiên trên thế giới ra đời năm 1949 tại Mỹ. Một trong những người được coi là "ông tổ" của loại quỹ đầu tư này là Alfred W. Jones, xuất thân là một nhà báo và nhà xã hội học. Alfred W. Jones thấy rằng việc nắm bắt xu thế của thị trường để đầu tư là rất khó khăn. Vì vậy, ông đã lập ra một loại quỹ đầu tư với chiến lược đầu tư dựa trên vị thế dài hạn (long position- vị thế của người mua) và ngắn hạn (short position- vị thế của người bán), có sử dụng hiệu quả đòn bẩy để nhằm đa dạng hóa rủi ro và đạt mức lợi nhuận tối đa. Một loại quỹ đầu tư mới đã ra đời như vậy và có tên gọi là Hedge Fund.

Tuy nhiên, loại quỹ đầu tư này chỉ thực bùng phát trên quy mô toàn cầu từ khoảng 10 năm trở lại đây. Theo số liệu của Ngân hàng Trung ương (NHTW) Thụy Sĩ, nếu như năm 1990 trên thế giới chỉ có khoảng 500 quỹ đầu tư dạng Hedge Fund, với tổng mức tài sản quản lý là 40 tỷ USD thì đến năm 2007, tổng số quỹ dạng này đã lên tới trên 9.500 với tổng tài sản quản lý khoảng từ 1.300 tỷ USD đến 1.500 tỷ USD. So với quỹ đầu tư truyền thống thì những con số trên còn rất khiêm tốn vì tổng tài sản quản lý của các quỹ đầu tư truyền thống trên quy mô toàn cầu hiện nay ước tính có khoảng 18.000 tỷ USD. Nhưng tương quan so sánh này cần tính đến hiệu quả đòn bẩy (leverage) mà các Hedge Fund có thể sử dụng để tăng khả năng giao dịch của mình.


Hiện quỹ đầu tư dạng Hedge Fund đang gây ra một áp lực chính trị rất lớn đối với các nhà lãnh đạo các nước có thị trường chứng khoán (TTCK) phát triển và không phải ngẫu nhiên nó được đưa vào chương trình nghị sự của Hội nghị cấp cao các nước G7 mùa Hè 2007 tại Cộng hòa Liên bang Đức. Tuy chưa có mặt ở TTCK Việt Nam nhưng việc tìm hiểu về các quỹ đầu tư dạng Hedge Fund là một điều cần thiết không chỉ đối với các cơ quan quản lý, các quỹ đầu tư, các công ty chứng khoán (CtyCK), các doanh nghiệp nói chung và các nhà đầu tư. Và điều này càng mang tính cần thiết hơn khi nền kinh tế nói chung và TTCK nói riêng đang ngày càng được toàn cầu hóa ở mức độ cao.


Câu hỏi đặt ra là Hedge Fund là gì?

bisbasic.jpgMột số người đã gọi loại quỹ đầu tư này là một "vật thể bay không xác định trong lĩnh vực tài chính", là "lỗ đen" trong hệ thống pháp luật. Việc đưa ra một định nghĩa mang tính khái quát về Hedge Fund là rất khó khăn. Theo báo cáo nghiên cứu khảo sát về Hedge Fund của IOSCO , không có một cơ quan quản lý về TTCK nào trong các thành viên của tổ chức này đưa ra một định nghĩa chính thức và mang tính pháp lý về Hedge Fund. Hiện tại, NHTW châu Âu và Quỹ Tiền tệ quốc tế đang nghiên cứu để đưa ra một định nghĩa chung trên phạm vi quốc tế về loại quỹ đầu tư này. Tuy nhiên, cả hai tổ chức này đều gặp khó khăn do sự phát triển hết sức đa dạng và với một tốc độ cao của Hedge Funds về quy mô, cấu trúc hoạt động, sự quản lý và về các nhà đầu tư của quỹ.


To Hedge - trong tiếng Anh có nghĩa là tự che chắn, tự bảo vệ. Tuy nhiên, việc dịch tên của loại quỹ đầu tư này ra tiếng Việt không hề đơn giản. Một số người đã gọi loại quỹ này là quỹ đầu tư tư nhân, quỹ đầu tư rủi ro hay quỹ đầu cơ. Trong bài viết này, tác giả không muốn đưa ra một tên gọi theo tiếng Việt của Hedge Fund mà chỉ muốn giới thiệu cùng bạn đọc các đặc điểm chung, các chiến lược đầu tư, cơ cấu tổ chức và hoạt động cùng các công cụ quản lý của một loại quỹ đầu tư còn rất mới đối với nhiều người Việt Nam.


Để trả lời cho câu hỏi Hedge Fund là gì, tất cả những người nghiên cứu về loại quỹ đầu tư này đều thống nhất với nhau về các đặc điểm chung của Hedge fund.


1. Các đặc điểm chung của Hedge Fund:


Mục tiêu hoạt động của quỹ dạng Hedge Fund là hướng tới lợi nhuận tuyệt đối, không phụ thuộc vào xu hướng của thị trường.


Số lượng thành viên của quỹ rất hạn chế (thường là dưới 100 người) và là các nhà đầu tư có tài sản khổng lồ hoặc các nhà đầu tư có tổ chức. Hiện nay, xu hướng tham gia vào Hedge Fund của các quỹ hưu trí, các quỹ đầu tư thông thường (dưới dạng fund of hedge fund) đang ngày càng gia tăng. Theo ước tính, tài sản đầu tư của các quỹ này vào Hedge Fund chiếm tới 1/3 tổng số tài sản quản lý của quỹ dạng Hedge Fund.


Phần lớn những người quản lý đều đồng thời là thành viên của quỹ. Họ đầu tư tài sản cá nhân của mình vào quỹ. Phần vốn đầu tư vào quỹ của các nhà quản lý ước tính chiếm 42% tài sản quỹ . Việc các nhà quản lý đầu tư vào Hedge Fund đã tạo ra niềm tin rất lớn đối với các nhà đầu tư bên ngoài. Người quản lý Hedge Fund được trả thù lao theo kết quả hoạt động của quỹ. Mức phí quản lý này gồm hai phần: mức phí cố định (từ 1% đến 5% tổng số tài sản quản lý của quỹ, nhưng mức trung bình là 2%) và mức phí theo kết quả hoạt động của quỹ (trung bình là 20% lợi nhuận mà quỹ thu được, một số người quản lý có uy tín thậm chí còn yêu cầu mức phí này lên tới 50% lợi nhuận của quỹ). Phần thù lao này là động cơ lớn khiến các nhà quản lý chấp nhận các rủi ro lớn trên thị trường. Theo số liệu thống kê của Le Nouvelle Economiste , năm 2005, mức thù lao trung bình cao nhất của 25 nhà quản lý quỹ hàng đầu là 300 triệu Euro/người. Đặc biệt có trường hợp của Jame Simon, Chủ tịch Renaissance Technologie Corp, ông này đã được hưởng mức thù lao lên tới 1,2 tỷ Euro.


Việc quản lý Hedge Fund được thực hiện một cách hết sức chủ động và theo các chiến lược đầu tư linh hoạt và rất đa dạng. Người quản lý quỹ không có nghĩa vụ thông báo với các nhà đầu tư ngay cả trong trường hợp họ thay đổi chiến lược đầu tư của Quỹ.


Chứng chỉ (cổ phiếu) quỹ thường không được mua lại vào mọi thời điểm. Tuy nhiên, các nhà đầu tư được hưởng một “lối thoát hiểm” nếu muốn bán lại chứng chỉ quỹ khi hết thời hạn “lock-up” (từ 2 đến 3 năm). Thời hạn báo trước khi muốn bán lại chứng chỉ hoặc cổ phiếu của quỹ là 3 tháng. Việc thực hiện thời gian “lock-up” cho phép các nhà quản lý Hedge Fund được chủ động thực hiện chiến lược đầu tư của mình.


Tính minh bạch của quỹ đầu tư dạng Hedge Fund không cao. Điều này được thể hiện ở việc quỹ thường không công bố cụ thể về danh mục đầu tư và về mức đòn bẩy (leverage) của mình. Việc công bố thông tin cho các nhà đầu tư được thực hiện dưới dạng gửi thư riêng đến từng người. Đặc điểm này trên thực tế đã dẫn đến tình trạng không bình đẳng giữa các nhà đầu tư do nội dung các thư mà quỹ gửi đến từng khách hàng có sự khác biệt. Có một số khách hàng được ưu ái hơn và được tiếp cận nhiều thông tin về hoạt động của Quỹ hơn một số nhà đầu tư khác. Tính minh bạch của quỹ đầu tư dạng Hedge Fund không cao còn được thể hiện ở việc 80% các quỹ được thành lập ở các “thiên đường tài chính” như Catiman, Vierge, Bahamas. Đây thường là các đảo trong khu vực vùng vịnh Caribê và các đảo gần Anh. Tại đây, các quy tắc về sự minh bạch tài chính không phải là yếu tố quan tâm hàng đầu của những người lãnh đạo.


Hoạt động của quỹ dạng Hedge Fund không bị ràng buộc bởi các quy định hạn chế áp dụng đối với các quỹ đầu tư dành cho công chúng trên phương diện đa dạng hóa rủi ro và chuyển nhượng các sản phẩm tài chính. Điều này cho phép các quỹ dạng Hedge Fund chiếm giữ một phần lớn các sản phẩm tài chính phức tạp và không có tính thanh khoản cao. Tận dụng các khiếm khuyết của thị trường thông qua việc kết hợp vị thế long/short cũng là một trong những đặc điểm phổ biến của quỹ đầu tư dạng Hedge Fund.


Người quản lý thường sử dụng một cách không hạn chế các sản phẩm phái sinh hoặc các kỹ thuật tài chính cho phép họ thực hiện các giao dịch bán khống hay vay mua. Quỹ cũng sử dụng thường xuyên hiệu quả đòn bẩy “leverage effect” nhờ vào sự tài trợ tài chính của các Prime Broker.


Phần lớn các quỹ dạng Hedge Fund đều yêu cầu một khoản đầu tư tối thiểu ở mức cao (100.000 USD, thậm chí có quỹ yêu cầu đến 1 triệu USD). Tuy nhiên, đặc điểm này hiện nay đang có sự thay đổi do một số nước đã cho phép các nhà đầu tư “hạng trung” được đầu tư trực tiếp vào Hedge Fund. Ví dụ, mức đầu tư tối thiểu vào Hedge Fund theo quy định của Pháp là 10.000 Euro nếu như nhà đầu tư có mức tài sản đầu tư tài chính tối thiểu (mức ròng) là 1 triệu Euro hoặc có ít nhất 1 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực tài chính đủ để đánh giá mức độ rủi ro khi đầu tư vào quỹ dạng Hedge Fund. Hong Kong cũng là một trong những thị trường quy định mức đầu tư tối thiểu vào Hedge Fund không cao. Sắp tới, Anh sẽ gia nhập vào hàng ngũ các nước có quy định về mức đầu tư tối thiểu tương đối thấp vào Hedge Fund. Bên cạnh đó, có một số nước cũng đã đi theo xu hướng không hề có quy định về mức đầu tư tối thiểu vào Hedge Fund như Đức, Australia và Luxembourg. Sự thay đổi về xu hướng này xuất phát từ quan điểm công bằng xã hội. Các nước đi theo xu hướng giảm mức đầu tư tối thiểu vào quỹ dạng Hedge Fund tự đặt ra cho mình câu hỏi: tại sao chỉ có những người giàu mới được đầu tư vào một loại quỹ đầu tư mang lại lợi nhuận cao như Hedge Fund? Tại sao để cùng đạt được một mức lợi nhuận như nhau, những người thuộc tầng lớp bình dân lại phải trả chi phí cao hơn những người giàu (do những nhà đầu tư nhỏ buộc phải tham gia một cách gián tiếp vào Hedge Fund thông qua các fund of hedge fund, và như vậy họ đương nhiên phải trả hai lần phí quản lý)?


Nhìn chung, các quỹ đầu tư dạng Hedge Fund thường được đăng ký ở một nước và được quản lý ở một nước khác.


2. Các loại chiến lược đầu tư của Hedge Funds:

Các chiến lược đầu tư của Hedge Fund theo cơ sở dữ liệu MAR và HFR gồm (Xem phụ lục 01):


Phụ lục 01: Các loại Hedge funds (phân loại theo chiến lược đầu tư)



* Event driven (3,86%).

* Global (12,48%).
* Global macro (11,4%).
* Market neutral (25,43%).
* Short sellers (0,86%).
* US oppotunistics (12,41%).
* Long only leveraged (0,97%).
* Market timing (1,75%).
* Equity non – hedge (4,29%).
* Foreign exchange (4,29%).
* Sector (0,32%).
* Funds of funds (7,58%).
* Không thuộc loại nào trong các chiến lược đầu tư trên (11,98%).

2.1. Event Driven:

Loại chiến lược đầu tư này dựa vào các tình huống đặc biệt xảy ra trên thị trường và được chia thành các chiến lược sau:


* Distressed Securities (3,86%): Người quản lý đầu tư vào chứng khoán của các công ty đang trong giai đoạn tái cơ cấu hoặc bên bờ phá sản. Họ hy vọng mua các chứng khoán này với giá thấp và bán lại khi công ty đã được phục hồi.

* Risk Arbitrage (1,79%): Các quỹ giao dịch chứng khoán của các công ty đang trong giai đoạn hợp nhất hoặc thực hiện chào mua công khai. Thông thường, họ mua cổ phiếu của công ty bị hợp nhất (bị chào mua) và bán ra cổ phiếu của công ty hợp nhất (thực hiện chào mua).
* No – substrategy (0,32%): Quỹ thực hiện chiến lược Event Driven nhưng không chỉ rõ chiến lược cụ thể của mình.

2.2. Global:

Chiến lược đầu tư này dựa trên các điều kiện kinh tế và chính trị trên toàn cầu và bao gồm các chiến lược cụ thể sau:


* International (2,22%): Người quản lý đặc biệt chú ý đến các thay đổi kinh tế toàn cầu và phương pháp đầu tư của họ hướng vào sự lựa chọn các chứng khoán trên các thị trường mà họ ưa thích.

* Emerging (7,26%): Người quản lý đầu tư vào các thị trường mới nổi như Hong Kong, Singapore, Ấn Độ, Brazil.
* Regional established (3%): Người quản lý tập trung đầu tư vào một số khu vực trên thế giới như: châu Âu, Nhật Bản.

2.3. Global macro:

Người quản lý đầu tư vào các khu vực mà họ cho rằng ở đó có nhiều cơ hội để thu được lợi nhuận. Trong trường hợp này, họ sử dụng hiệu quả đòn bẩy cao.


2.4. Market neutral:

Chiến lược đầu tư này bao gồm:


* Long-short equity (5,36%): Người quản lý có ý định dung hòa các rủi ro trên thị trường thông qua việc nắm giữ cả hai vị thế long và short của nhiều loại chứng khoán.

* Convertibles arbitrage (1,57%): Người quản lý nắm giữ vị thế dài hạn (long position) của trái phiếu chuyển đổi và thực hiện bán khống cổ phiếu của công ty phát hành trái phiếu chuyển đổi đó nhằm tận dụng chênh lệch giá tạm thời để thu lợi nhuận.
* Fixed income (2,18%): Người quản lý tận dụng chênh lệch giá tạm thời của các chứng khoán có thu nhập cố định (kể cả các sản phẩm phái sinh) để thu lợi nhuận.
* Stock arbitrage: Người quản lý nắm giữ đồng thời cả hai vị thế long và short trên cùng một thị trường để hưởng chênh lệch giá. Điểm đặc biệt của chiến lược này là nó dựa trên các mô hình về khối lượng. Các vị thế long và short thường ngang nhau về khối lượng đầu tư.
* Mortgage backed securities (2%): Quỹ đầu tư vào các chứng khoán được cầm cố. Phần lớn các quỹ tập trung vào các chứng khoán AAA (chứng khoán của các công ty được định mức tín nhiệm cao). Quỹ cũng có thể sử dụng đòn bẩy và các sản phẩm phái sinh. Cũng cần phải nói thêm rằng ở các nước, việc cầm cố chứng khoán được thực hiện dưới dạng cầm cố một danh mục đầu tư. Người cầm cố được phép thực hiện các giao dịch trong tài khoản cầm cố của mình nhưng phải đảm bảo giá trị của danh mục chứng khoán cầm cố không được thấp hơn mức cấm cố ban đầu. Có thể nói, đây là một quy định về cầm cố chứng khoán rất linh hoạt và cho phép giảm tối đa rủi ro cho bên cầm cố, nhất là trong giai đoạn thị trường có nhiều biến động.
* Relative value arbitrage (0,29%): Người quản lý hướng tới việc tận dụng chênh lệch giá giữa các công cụ như cổ phiếu, trái phiếu, các hợp đồng lựa chọn (option), hợp đồng tương lai (future). Họ sử dụng các phân tích về khối lượng, về kỹ thuật để phát hiện ra các cơ hội đầu tư. Thông thường, họ sử dụng đòn bẩy.

2.5. Short seller (0,86%):

Người quản lý thực hiện bán khống chứng khoán để tận dụng việc giá sẽ giảm trong tương lai gần. Họ sử dụng chủ yếu chiến lược này để đa dạng hóa danh mục đầu tư của mình.


2.6. Oppotunistic:

Loại chiến lược đầu tư này gồm:


* Growth (3,15%): Người quản lý đầu tư vào các loại chứng khoán tăng trưởng.

* Value (3,93%): Người quản lý đầu tư phần lớn vào các chứng khoán có giá trị cao.
* Small caps (0,5%): Người quản lý tập trung phần lớn các khoản đầu tư của mình vào các công ty nhỏ.

2.7. Long only leveraded (0,97%):

Chiến lược đầu tư này chủ yếu nhằm vào vị thế dài hạn (long position) của các cổ phiếu. Người quản lý thông thường là các “stock-picker” và họ sử dụng đòn bẩy để nhằm tăng lợi nhuận thu được.


2.8. Market timing (1,75%):

Người quản lý chuyển đầu tư từ một loại tài sản này sang một loại tài sản khác để thu về lợi nhuận. Họ có thể đầu tư vào cổ phiếu, trái phiếu, các quỹ đầu tư hoặc vào thị trường tiền tệ.


2.9. Equity non – hedge (4,29%):

Chiến lược này chủ yếu dựa vào các vị thế dài hạn đối với cổ phiếu, mặc dù người quản lý thường tự trang bị cho mình khả năng tự bảo vệ thông qua việc thực hiện giao dịch bán khống các chứng khoán hoặc các chỉ số.


2.10. Foreign exchange (4,29%):

Người quản lý đầu tư vào các sản phẩm gắn liền với thị trường tiền tệ.

2.11. Sector (0,32%):

Quỹ tập trung đầu tư vào các ngành cụ thể như y tế, thể thao, điện ảnh... Người quản lý giữ cả hai vị thế ngắn hạn và dài hạn và có thể sử dụng các sản phẩm phái sinh.

2.12. Funds of Funds (7,58%):

Người quản lý đầu tư vào nhiều quỹ khác nhau. Các quỹ đầu tư này có thể cùng một chiến lược đầu tư hoặc không. Mục tiêu của họ trong chiến lược này là giảm một cách đáng kể các rủi ro trên thị trường.

2.13. Chiến lược đầu tư không thuộc các chiến lược nêu trên (11,98%):

Chiến lược này có thể có nhiều nguyên nhân khác nhau như quỹ không báo cáo chiến lược đầu tư của mình với trung tâm dữ liệu; quỹ thực hiện đồng thời nhiều chiến lược khác nhau hoặc do quỹ thực hiện một chiến lược đặc biệt không thuộc bất cứ chiến lược nào đã nêu trên.


CUENDET - Trần Thị Thanh Thảo
NCS., Đại học Paris 2 Panthéon – Assas, Cộng hòa Pháp
Trang Tìm hiểu thị trường chứng khoán, Chứng khoán Việt Nam số 4, ngày 15/04/2008

Bảng lương phi nông nghiệp Mỹ

Bảng lương phi nông nghiệp (Non-farm payrolls) của Mỹ là một trong những bản báo cáo được mong đợi nhất của các thị trường tài chính, là một bản báo cáo kịp thời về bức tranh của thị trường việc làm ở Mỹ: gia tăng, tụt giảm, số giờ làm việc, số lương thưởng ... Những tư liệu trong bản báo cáo được thu thập từ 2 cuộc khảo sát là Household Surveys và Establishment (payroll) Survey (Báo cáo theo hộ gia đình và báo cáo theo bảng lương). Trong đó Establishment Survey được ưa chuộng hơn vì bản báo cáo này đánh giá tình trạng của các doanh nghiệp chứ ko chỉ gói gọn trong các hộ gia đình. Bản báo cáo có những chỉ số đầy ý nghĩa như: Change in nonfarm payrolls (Thay đổi bảng lương phi nông nghiệp), Unemployment Rate (tỷ lệ thất nghiệp), Manufacturing Payrolls (bảng lương ngành sản xuất) và Average Hourly Earnings (thu nhập trung bình mỗi giờ).

Bảng lương phi nông nghiệp (NFP) là một báo cáo về tình hình kinh tế của Mỹ được thông báo hàng tháng. Chỉ số được công bố là chỉ số về sự thay đổi trong NFP so với tháng trước đó và thường có sự thay đổi từ 10000 cho đến 250000 suốt những giai đoạn khủng hoảng kinh tế. Các con số về NFP được sử dụng để đại diện cho số công việc gia tăng hay mất đi trong nền kinh tế trong tháng gần nhất, không bao gồm những công việc liên quan đến ngành công nghiệp trồng trọt. Vì ngành này thường có tính chất thuê nhân công theo mùa mà điều này sẽ làm cho chỉ số xung quanh thời điểm mùa gặt không còn chính xác nữa (vì các nông trang thường tăng thêm số công nhân và sau đó thì chỉ số vào mùa gặt mới được công bố). Bản báo cáo này cũng cho biết về số giờ làm việc trung bình hàng tuần và số thu nhập kiếm được bình theo tuần của tất cả những công nhân thuộc những ngành có trong báo cáo.

Bảng lương phi nông nghiệp bao gồm các thông tin sau :
- Sự thay đổi về chỉ số NFP
- Tỉ lệ thất nghiệp
- Thay đổi về chỉ số Manufacturing Payrolls: bảng lương dành riêng cho các ngành sản xuất.
- Thu nhập trung bình tính theo giờ.
- Số giờ làm việc trung bình tính theo tuần.

Nói chung báo cáo phản ánh khoảng 80% tổng số công nhân làm việc để tăng sản lượng GDP của Mỹ và được sử dụng để hỗ trợ các chính khách và các nhà kinh tế đưa ra những chính xác mới để quyết định hiện trạng của kinh tế và phỏng đoán tương lai.


Ý nghĩa của NFP đối với nền kinh tế:
Nói chung, khi chỉ số lao động gia tăng có nghĩa là các công ty đang phát triển và cần tuyển dụng nhân lực và điều đó cũng đồng nghĩa với việc nhiều người sẽ có việc làm và có tiền để chi tiêu vào các sản phẩm hay dịch vụ giúp kích thích phát triển. Điều ngược lại cũng hoàn toàn đúng trong trường hợp NFP giảm đi.

Ý nghĩa của NFP với thị trường tài chính:
Trong khi tổng số việc làm tăng lên hay giảm đi đối với nền kinh tế là một kim chỉ nam rất quan trọng cho hiện trạng kinh tế thì báo cáo này lại có những thống kê mà hoàn toàn có ảnh hưởng đến thị trường tài chính:
- Chỉ số thất nghiệp đối với kinh tế như một tỷ lệ của toàn bộ lực lượng lao động. Đây là một phần quan trọng của bản báo cáo vì số người thất nghiệp là một dấu hiệu của tổng thể kinh tế, và đây là một con số được Cục dự trữ Liên bang Mỹ (FED) theo dõi rất kĩ vì khi chỉ số này hạ xuống mức quá thấp (thường là dưới 5%) thì lạm phát sẽ bắt đầu hình thành vì các doanh nghiệp sẽ phải trả nhiều tiền hơn để thuê những thợ lành nghề và việc giá thành sản phẩm gia tăng cũng là điều đương nhiên.

- Chỉ ra bộ phận nào có sự tăng hay giảm về công việc: Bản báo cáo có thể đưa ra sự cảnh báo cho những nhà giao dịch về mảng kinh tế nào có thể bung nổ phát triển.


- Thu nhập trung bình hàng giờ: Đây là một yếu tố quan trọng vì nếu cùng một lượng nhân công như nhau nhưng lại kiếm nhiều hơn hay ít hơn cho một khối lượng công việc, điều này về căn bản là nói lên việc cần phải tăng hay giảm nhân công cho khối lượng công việc đó.


- Dùng để xem lại chỉ số của lần ra tin NFP trước đó: Một yếu tố quan trọng khác của báo cáo là có thể gây ra những biến động trong thị trường vì các nhà giao dịch thường phỏng đoán những chiều hướng ảnh hưởng của báo cáo dựa vào chỉ số cũ (kỳ trước).

Dự trữ bán buôn của Mỹ

Dự trữ bán buôn (wholesale inventories) do Cục Điều tra dân số Hoa Kỳ công bố cho biết thống kê về doanh số và hàng tồn (tức là hàng hóa chưa bán hết của các nhà bán sĩ, các nhà bán sĩ bán trực tiếp cho các nhà bán lẻ theo nhu cầu tiêu dùng) từ giai đoạn 2 của tiến trình sản xuất. Số liệu doanh số không tác động đến thị trường vì chúng không phản ánh chi tiêu cá nhân trong khi dự trữ bán buôn có thể thay đổi hồ sơ hàng tồn mà có thể ảnh hưởng đến dự báo GDP.

Số liệu dự trữ bán buôn cao cho thấy hàng hóa chưa bán ra tăng dẫn đến thực tế các nhà bán lẻ đang đối mặt với nhu cầu tiêu dùng trì trệ và họ không sẵn lòng mua hàng hóa, điều đó nghĩa là kinh tế chậm tăng trưởng ở Mỹ và đó được xem là yếu tố tiêu cực đối với đồng USD và ngược lại nếu số liệu thấp thì được xem là yếu tố tích cực. Bởi vì dự trữ bán buôn phản ánh nhu cầu của các nhà bán lẻ đối với hàng hóa của các nhà sản xuất nên báo cáo dự trữ bán buôn cho biết thông tin về sức mạnh tiềm năng của chi tiêu tiêu dùng.


Các nhà phân tích theo dõi dự trữ bán buôn để tìm hiểu tình hình của thị trường tiêu dùng.
Số liệu dự trữ bán buôn được báo cáo vào lúc 10:00 AM (EST) trong ngày kinh doanh thứ 5 hàng tháng; thống kê số liệu từ 2 tháng trước.

Địa chỉ công bố báo cáo dự trữ bán buôn của Mỹ: http://www.census.gov/mwts/www/mwts.html


Elliott Wave Vietnam

Bài đăng phổ biến